Nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt

09:00 | 07/09/2020

Trong thời gian tới, phải đẩy mạnh nâng cao năng lực chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Việt Nam, 8 tháng năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt 26,1 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành chế biến nông sản của Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, nếu không muốn nói là còn những “nút thắt” tồn tại lâu dài trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp chưa tháo gỡ được. Cụ thể, với các mặt hàng rau củ quả, khối lượng đưa vào chế biến hiện mới chỉ chiếm 5 - 10% sản lượng hằng năm. Các nhà máy với năng lực hiện có không đủ công suất chế biến nên khi vào chính vụ thường gây ra tổn thất sau thu hoạch khá lớn.

Trong thời gian tới, phải đẩy mạnh nâng cao năng lực chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp

Nguyên nhân chính của vấn đề này được các chuyên gia cho rằng, mặc dù cơ chế chính sách mà Nhà nước đã ban hành từ lâu, nhưng mới chỉ phần nào hỗ trợ cho DN đầu tư vào công nghệ chế biến sau thu hoạch. Trong thực tế, việc áp dụng chính sách vào thực tế còn chậm, hiệu quả chưa cao do tính thực thi hạn chế, thiếu sự nhất quán, đặc biệt về cơ chế tài chính chưa hiệu quả. Hiện, chỉ có những DN xuất khẩu quy mô lớn tham gia vào công nghiệp chế biến sâu do đầu tư một nhà máy chế biến nông sản có dây chuyền hiện đại vốn đòi hỏi kinh phí rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu.

“Công nghệ thu hoạch và bảo quản kém dẫn đến giá trị của nông sản bị giảm sút đáng kể, trong khi đó, sự cạnh tranh với mặt hàng này trên thế giới đang có xu hướng gia tăng. Vì vậy, Việt Nam cần đầu tư mạnh vào chế biến trái cây và các nông sản khác để giữ vị trí của mình trên thị trường xuất khẩu” – chuyên gia nhận định.

Theo Viện Nghiên cứu và Phát triển logistics Việt Nam, chỉ 0,3% nông sản Việt Nam được hưởng lợi từ việc sử dụng chuỗi công nghệ logistics lạnh so với 3% ở Đức, 2,6% ở Anh và 1% ở Mỹ. Vì vậy, tổn thất sau thu hoạch ở Việt Nam khá cao; chỉ khoảng 25% trang trại của Việt Nam có công nghệ và máy móc cho các công đoạn sau thu hoạch...

Thực tế, trong nhiều năm qua mặc dù Việt Nam là quốc gia xuất khẩu số lượng lớn các loại nông lâm thủy sản với nhiều mặt hàng luôn đứng nhất nhì về kim ngạch như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu..., song một vấn đề được cho là “đơn giản” là việc đóng gói nông sản - góp vai trò rất quan trọng trong việc bảo quản sau thu hoạch, lại chưa được các DN Việt Nam quan tâm đúng mức. Hiện, khoảng 70% trái cây và rau quả của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, chủ yếu ở dạng tươi và chưa qua chế biến. Số còn lại xuất sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ hoặc EU nhưng giá trị thu về chưa cao bởi những hạn chế của DN Việt Nam liên quan đến bảo quản và chế biến sau thu hoạch.

Bàn về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Thanh Thức, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Công ty Bagico cho biết, Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đến 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, tại các thị trường lớn và “khó tính”, nhiều mặt hàng của Việt Nam đã bị từ chối nhập cảnh do nhiễm vi sinh vật, tồn dư thuốc thú y và kim loại nặng. Trước tiên, để bảo quản nông sản, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng phải được xử lý trực tiếp. Đồng thời, để giảm tổn thất sau thu hoạch, các DN cần đầu tư hơn nữa vào khâu chế biến, đóng gói. Đặc biệt, cần có những chính sách, chương trình hành động quốc gia nhằm khuyến khích nông dân ứng dụng công nghệ cao để giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.

Theo Bộ NN&PTNT, ngành nông nghiệp phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản đặt mục tiêu “đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới”. Đồng thời, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu và có đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp với tốc độ tăng giá trị hàng nông sản qua chế biến sâu đạt 7 - 8%/năm, tỷ trọng sản lượng sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao của các ngành đạt từ 30% trở lên; trên 50% số cơ sở chế biến các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến; xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, doanh nghiệp chế biến nông sản có quy mô lớn, hiện đại, năng lực cạnh tranh quốc tế cao…

Để đạt được mục tiêu đề ra, các chuyên gia cho rằng, phải đẩy mạnh nâng cao năng lực chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp. Đây được xem là nội dung căn bản góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho nông sản. Bên cạnh đó, cần lựa chọn các DN “đầu tàu” có đủ năng lực về vốn, khoa học công nghệ và thị trường để dẫn dắt chuỗi giá trị, vận hành một cách thông suốt, hiệu quả.

Cùng với đó, là đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo máy và thiết bị phụ trợ cho ngành nông nghiệp theo hướng chuyên sâu, hình thành và phát triển hệ thống logistics đồng bộ gắn với việc phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng các nhà máy chế biến để giảm chi phí sản xuất cho những sản phẩm ngành hàng chủ lực mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao.

Phương Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.046 23.276 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.077 23..289 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.400
Vàng SJC 5c
55.950
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800