NCB không “lựa chọn” cổ đông chiến lược bằng mọi giá

14:12 | 24/04/2019

Trong thời gian qua, nhiều ngân hàng Việt Nam đã lựa chọn được các định chế tài chính lớn nước ngoài làm cổ đông chiến lược. Không nằm ngoài lộ trình này, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) cũng đang có những bước đi nhằm tìm kiếm nhà đầu tư (NĐT) chiến lược, tạo động lực cho hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, không vì thế mà NCB lựa chọn cổ đông chiến lược bằng mọi giá mà sẽ tìm kiếm để “chọn mặt gửi vàng”.

Giải bài toán “khát vốn” của ngân hàng nội

Có thể nói, trào lưu "tìm vốn ngoại" với hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) được các ngân hàng Việt ráo riết thực hiện từ lâu, đặc biệt là giai đoạn 2005 - 2011. Được thúc đẩy bởi sự mở rộng của hệ thống tài chính, "miếng bánh" ngân hàng thời điểm đó đã hấp dẫn các đối tác ngoại. Mối quan hệ hợp tác, ngoài lợi ích kinh doanh khi tham gia sâu hơn vào quản trị, còn giúp những đối tác ngoại gián tiếp "khảo sát" hệ thống tài chính Việt Nam, đặt những "viên gạch đầu tiên" để bước vào một thị trường tài chính dù mới mẻ nhưng rất nhiều phân khúc hấp dẫn.

Mở đầu là ba thương vụ năm 2005 giữa ACB - Standard Chartered, Techcombank - HSBC và Sacombank - ANZ. Tiếp đó, năm 2006, VPBank "kết duyên" với Overseas Chinese Banking Corporation Limited (OCBC). Năm 2007, Eximbank bán 15% cổ phần cho Sumitomo Mitsui. Rồi sau đó, lần lượt OCB, ABBank, Vietcombank, SeABank, VIB và cuối cùng là VietinBank tìm được những đối tác ngoại ưng ý. Có thể nói, hàng nghìn tỷ đồng từ những thương vụ này đã tiếp thêm nguồn lực cho khối ngân hàng nội, vừa giúp đẩy mức vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng, vừa tạo nguồn lực cho việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.

Ngân hàng nội thu hút NĐT ngoại

Theo các chuyên gia, cho đến nay dòng vốn ngoại vẫn luôn là điều cần thiết với các ngân hàng nội. Đặc biệt trong giai đoạn chuyển dịch lên những tiêu chuẩn quản trị cao hơn, như Basel II, đây có thể là một động lực không thể thiếu để giải quyết bài toán "khát vốn" của các TCTD Việt Nam hiện nay.

Nhưng trong thực tế, cũng đã có nhiều đối tác ngoại đã “chia tay” với các ngân hàng Việt. Nguyên nhân có nhiều, trong đó có thể do chiến lược của mỗi bên khác nhau hoặc thay đổi theo thời gian; các tập đoàn tài chính nước ngoài đã có ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (nên việc nắm giữ cổ phần và tham gia điều hành ở một ngân hàng trong nước không còn cần thiết); NĐT ngoại đứng trước chọn lựa hoặc chấp nhận giảm tỷ lệ sở hữu, hoặc phải đầu tư thêm trong các đợt phát hành tăng vốn của các ngân hàng nội mà họ đang nắm giữ trong bối cảnh các ngân hàng trong nước phải tiếp tục tăng mạnh vốn để đáp ứng các tiêu chí an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế…

Chung quy lại, việc đầu tư vào một ngân hàng phải mang tính dài hạn và quan trọng hơn là NĐT và ngân hàng mời gọi đầu tư phải có chung tầm nhìn chiến lược cho phát triển lâu dài và ổn định. Điều ấy càng đúng trong giai đoạn hiện nay bởi khác với sự ồ ạt cách đây 10 năm, các ngân hàng nội - với quy mô và tầm vóc khác xa giai đoạn trước - đang có nhiều toan tính hơn cho việc chọn lựa, tìm kiếm NĐT chiến lược để “chọn mặt gửi vàng”. Trường hợp NCB có thể coi là một ví dụ điển hình.

Muốn “nên duyên” nhưng không bằng mọi giá

Như đã phân tích ở trên, thực tế cho thấy sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng Việt Nam đã tạo động lực và điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng hoạt động, đồng thời khẳng định được tầm vóc, thương hiệu trên thị trường nội địa và quốc tế. Vì thế, trong quá trình tìm kiếm NĐT nước ngoài làm cổ đông chiến lược, các ngân hàng Việt Nam nói chung và NCB nói riêng đều xác định và mong muốn lựa chọn được NĐT có uy tín, có năng lực tài chính cũng như có khả năng hỗ trợ trong nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản lý rủi ro; áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và các lĩnh vực khác phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng.

Tuy nhiên, ông Vũ Mạnh Tiến – Phó Chủ tịch thường trực HĐQT NCB, cho biết: “Chúng tôi không lựa chọn NĐT nước ngoài làm cổ đông chiến lược bằng mọi giá, bởi việc lựa chọn cổ đông chiến lược nước ngoài không chỉ đạt được mục đích nêu trên trong ngắn hạn, mà phải mang lại lợi ích lâu dài cho hai phía. NCB muốn tìm NĐT chiến lược dài hạn phù hợp với chiến lược kinh doanh của NCB.”

Do vậy ông Tiến chia sẻ, trước khi tìm kiếm và lựa chọn cổ đông chiến lược nước ngoài, NCB đã xây dựng các tiêu chí lựa chọn cổ đông chiến lược phù hợp với nhu cầu và đặc điểm thực tế của mình, bao gồm: Tổng tài sản, kinh nghiệm hoạt động quốc tế, xếp hạng tín nhiệm độc lập quốc tế,... Lựa chọn được cổ đông chiến lược nước ngoài là một quá trình khá phức tạp, vừa phải tìm một đối tác phù hợp với chiến lược phát triển lâu dài, vừa phải tuân thủ những quy định luật pháp liên quan đến cổ đông chiến lược.

NCB tăng cường hợp tác với đối tác trong và ngoài nước

Trong lựa chọn cổ đông chiến lược, các bên phải phối hợp như thế nào, hoà hợp văn hoá ra sao, quản trị công ty như thế nào… để cùng hướng đến khai thác những khía cạnh tích cực của cả hai bên, nhằm đạt được giá trị cộng hưởng tốt nhất. Khi lựa chọn cổ đông chiến lược nước ngoài, không chỉ riêng NCB mà các ngân hàng Việt Nam đều mong muốn được tiếp cận một hệ thống quản trị nội bộ tiên tiến hơn và được cổ đông chiến lược nước ngoài hỗ trợ quản trị nguồn nhân lực, sắp xếp lại mô hình hoạt động theo hướng hiện đại hơn, quản lý hoạt động ngân hàng mang dáng dấp của ngân hàng hiện đại.

Hơn nữa, tìm được một đối tác chiến lược để hỗ trợ NCB phát triển mạnh ngân hàng số (digital banking) cũng là một điều rất quan trọng. Digital banking là xu hướng toàn cầu, NCB không có lựa chọn nào khác hơn là đầu tư và đẩy mạnh loại hình ngân hàng này để đáp ứng nhu cầu sử dụng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại của người dân và để hội nhập nhanh vào cộng đồng ngân hàng toàn cầu.

TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng: “Để có sức hút với các định chế tài chính cho chiến lược kinh doanh trong những năm tới, Ban Lãnh đạo NCB nên thực hiện kế hoạch đưa NCB vào nhóm các ngân hàng bậc trung thông qua việc tăng vốn điều lệ và tổng tài sản trong vòng 5 năm tới. Không chỉ tìm NĐT hỗ trợ vốn, mà cần tìm một “partner’, một bạn đồng hành trong việc xây dựng ngân hàng trở thành một trong những ngân hàng của Việt Nam tiên phong tiến vào thị trường tài chính trong khu vực Đông Nam Á và thế giới”.

Thư Kỳ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900