NCIF: Quý IV khó phục hồi nhanh, cả năm 2021 tăng trưởng khả quan chỉ 1,9%

18:01 | 05/11/2021

Theo báo cáo nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF), tăng trưởng kinh tế năm nay có thể chỉ ở mức 1,52% (kịch bản cơ sở) hoặc 1,9% (kịch bản khả quan), trước khi phục hồi mạnh về mức quanh 6% trong năm 2022.

Dự báo này được đưa ra tại Diễn đàn Nhịp đập Kinh tế Việt Nam với chủ đề “Tài chính cho phục hồi và phát triển bền vững” do NCIF, UNDP và Đại học Fullbright Việt Nam (FUV) tổ chức ngày 5/11 tại Hà Nội.

ncif quy iv kho phuc hoi nhanh ca nam 2021 tang truong kha quan chi 19

Ở phần trình bày báo cáo tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2021 và triển vọng 2022, TS. Trần Toàn Thắng thuộc NCIF lưu ý, vào thời điểm báo cáo được hoàn thiện (10/2021), Việt Nam vẫn đang chống chọi với đợt dịch COVID-19 lần thứ 4, đặc biệt là hai vùng động lực kinh tế phía Nam và phía Bắc, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của cả nước.

Quý IV/2021 và thời gian tới, nền kinh tế đan xen cả cơ hội và thách thức, rủi ro đe dọa khả năng phục hồi nhanh. Trong đó, cơ hội tập trung ở một số điểm như: Kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi nhanh, đặc biệt là khu vực EU, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản; Dòng đầu tư FDI trên toàn cầu đang phục hồi khá nhanh và kỳ vọng sẽ trở về mức trước đại dịch COVID-19 vào cuối năm 2022; Các FTA, đặc biệt ba hiệp định lớn bao gồm CPTPP, EVFTA và RCEP đi vào thực hiện ở những năm đầu tiên với mức độ cắt giảm thuế quan lớn giúp phục hồi xuất khẩu và sản xuất; Các quốc gia trong đó có Việt Nam đã thay đổi cách thức, quan điểm chống dịch, theo đó các biện pháp giãn cách, phong tỏa được giảm thiểu, tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa và con người, qua đó phục hồi về cầu tiêu dùng cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, một loạt rủi ro cũng đang đặt ra trong ngắn và trung hạn, cả từ bên ngoài và nội tại nền kinh tế. Bên trong là rủi ro từ chuyển dịch các dòng vốn trong nước, trong đó đáng ngại nhất là việc dòng vốn có thể dịch chuyển sang các lĩnh vực nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán trong khi vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn đang thiếu hụt.

Nguy cơ nợ xấu đang tăng cao, ảnh hưởng tới an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng. Nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 6/2021 tăng lên 1,73% (so với 1,18% giữa năm 2020). Nếu cộng gộp tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn... tăng lên 3,66%, và nếu tính cả các khoản nợ không bị chuyển nợ xấu do được cơ cấu lại, miễn, giảm lãi thì tỷ lệ này lên tới 7,21% (chưa tính số nợ xấu gia tăng trong Quý III/2021).

Thu - chi ngân sách nhà nước khó khăn do các khoản thu có tính bền vững từ thuế giảm, trong khi đó nhu cầu chi tăng lên nhanh do các hoạt động phòng chống dịch và hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Ngoài ra, phục hồi lao động tại các vùng sản xuất động lực có thể chậm, ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng trong ngắn và trung hạn.

Từ bên ngoài, một loạt các rủi ro cũng đe dọa khả năng phục hồi trong năm 2022. Biến động giá cả nguyên liệu, dầu, lương thực thực phẩm rất lớn kể từ đầu năm 2020, đe dọa giá nhập khẩu tiếp tục tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản xuất. Nguy cơ nhập khẩu lạm phát là hiện hữu, đặc biệt sức ép lạm phát từ bên ngoài sẽ tăng mạnh trong các Quý IV/2021 và hai quý đầu năm 2022.

Trong khi đó, chi phí logistics tăng cao và khó có khả năng về mốc trước COVID-19 vào cuối năm 2022. Do đó trong ngắn hạn, chi phí logistics sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực tới cả xuất và nhập khẩu, đồng thời cũng tạo sức ép lên lạm phát. Trong trung và dài hạn, nếu chi phí logistics tiếp tục tăng hoặc giữ ở mức cao, có thể làm tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh năng lực cạnh tranh và hạ tầng logistics ở Việt Nam kém phát triển, vì vậy có thể ảnh hưởng dài hạn tới đầu tư.

Do ảnh hưởng của dịch COVID-19 trong quý III khá nghiêm trọng và trước những cơ hội và rủi ro cả bên trong và bên ngoài nêu trên, kinh tế Quý IV/2021 khó có khả năng phục hồi nhanh, vì vậy tăng trưởng cả năm 2021 cũng chịu ảnh hưởng dẫn đến các dự báo như đã đề cập ở trên. Thậm chí trong trường hợp phục hồi chậm và nhiều tình huống xấu do kiểm soát dịch bệnh, kinh tế 2021 có thể tăng trưởng ở mức khoảng 0,8%. Sang năm 2022, tùy vào bối cảnh thuận lợi cả trong và ngoài nước, tăng trưởng GDP được dự báo trong khoảng 5,8% (kịch bản cơ sở) và 6,7% trong kịch bản cao.

Trên cơ sở đánh giá những cơ hội và rủi ro của nền kinh tế, báo cáo cho rằng để đảm bảo tăng trưởng và phục hồi nhanh, bền vững, cần một loạt giải pháp chính sách cả trong ngắn và dài hạn.

Trong ngắn hạn, cần tập trung vào các biện pháp kiểm soát hợp lý COVID-19 kết hợp với gia tăng độ bao phủ vaccine. Các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn ngắn hạn vẫn cần được thực hiện khẩn trương, tuy nhiên cần chú ý về chi phí thực hiện chính sách, cũng như hiệu lực thực thi chính sách tương đối thấp hiện nay.

Trong dài hạn, cần chú ý cải thiện năng suất lao động, môi trường kinh doanh, đặc biệt cần coi chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế như một cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới thể chế chính sách, thực thi nghiêm kỷ luật công vụ và có những điều chỉnh phù hợp với phân cấp quản lý nhà nước.

Các biện pháp thúc đẩy đầu tư công, đặc biệt là đầu tư cải thiện hạ tầng số và thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng chuyển đổi số là cần thiết. Đồng thời, tận dụng gói hỗ trợ để phát triển một số ngành mũi nhọn, cải thiện chuỗi cung ứng và phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900