Nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro

16:05 | 23/09/2022

Cân đối vĩ mô vững mạnh, chính sách tiền tệ (CSTT) linh hoạt, hiệu quả; và sự phục hồi nhanh hơn dự kiến của ngành chế biến chế tạo, dịch vụ và tiêu dùng nội địa, ấn bản Cập nhật Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á (ADO 2022) của ADB vừa công bố đã giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam ở mức 6,5% cho năm 2022 và 6,7% cho năm 2023. Song ADB cũng cảnh báo, nền kinh tế Việt Nam còn nhiều rủi ro phải đối mặt.

nen kinh te doi mat voi nhieu rui ro Thủ tướng chỉ đạo các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô sau khi Fed tiếp tục nâng lãi suất
nen kinh te doi mat voi nhieu rui ro Ổn định kinh tế vĩ mô: Dĩ bất biến, ứng vạn biến

Sự khác biệt đến từ vĩ mô ổn định

Theo báo cáo Cập nhật này, lạm phát tại Việt Nam sẽ ở mức 3,8% cho cả năm 2022 và 4% trong năm 2023 (giữ nguyên như dự báo trong ADO 2022 đưa ra vào tháng 4/2022). Trong khi đó, điều chỉnh tăng mạnh dự báo lạm phát trong năm nay ở các nền kinh tế châu Á đang phát triển lên 4,5% (từ dự báo trước đó là 3,7%), từ 3,1% lên 4% năm 2023; đồng thời hạ mạnh dự báo tăng trưởng xuống 4,3% trong năm nay (từ mức 5,2%), và xuống 4,9% (từ 5,3%) cho năm tới.

Tại sự kiện công bố ấn bản Cập nhật này ngày 21/9, ông Andrew Jeffries, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam nhận xét: “Nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhanh hơn dự kiến trong nửa đầu năm 2022, và tiếp tục tăng trưởng trong bối cảnh môi trường toàn cầu có nhiều thách thức. Kinh tế phục hồi ổn định nhờ các cân đối kinh tế mạnh, được hỗ trợ bởi sự phục hồi nhanh hơn dự kiến của ngành sản xuất chế biến chế tạo và dịch vụ”.

nen kinh te doi mat voi nhieu rui ro
Ảnh minh họa

Theo ông Nguyễn Minh Cường - chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, về cơ bản, các động lực tăng trưởng như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ của Việt Nam cũng có sự phục hồi khá tương đồng với các nước khác trong bối cảnh những tác động tiêu cực từ đại dịch giảm đi. Nhưng điểm khác biệt là nền tảng kinh tế vĩ mô (KTVM) của Việt Nam rất ổn định.

“Vì vậy nền tảng KTVM ổn định không chỉ tạo ra động lực cho tăng trưởng mà còn tạo dư địa để linh hoạt trong ứng phó trước biến động có thể xảy ra từ giờ đến cuối năm”, chuyên gia này nhận định và cho biết, đây chính là cơ sở quan trọng để vừa qua, Việt Nam là nền kinh tế duy nhất ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương được nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn, trong khi các nền kinh tế khác hoặc bị hạ xuống hoặc giữ nguyên.

Ông Nguyễn Minh Cường nhấn mạnh, đóng góp quan trọng vào nền tảng KTVM ổn định ấy là CSTT rất linh hoạt và hiệu quả. Chuyên gia này dẫn chứng về tín dụng và tỷ giá để cho thấy sự linh hoạt này. Cụ thể như năm nay, để vừa giúp kiềm chế lạm phát, ổn định KTVM, vừa hỗ trợ cho tăng trưởng, mức tín dụng 14% là linh hoạt và hợp lý. Trong khi đó về điều hành tỷ giá, việc giữ được tỷ giá tương đối ổn định (VND giảm giá đến nay chỉ khoảng 2%) hỗ trợ tích cực cho hoạt động xuất nhập khẩu và giúp cho VND ổn định hơn so với các đồng tiền khác.

“Tất nhiên có hai mặt ở đây: Khi VND mất giá ít so với USD, cũng có nghĩa VND tăng giá tương đối so với các đồng tiền khác (bởi phần lớn đều mất giá mạnh so với USD). Nhưng nhìn chung, điều hành CSTT thời gian vừa qua rất linh hoạt và hiệu quả, qua đó vừa giúp kiểm soát lạm phát, vừa có dư địa để hỗ trợ cho tăng trưởng”, ông Cường nói.

Đầu tư công là động lực tăng trưởng quan trọng

Mặc dù đà phục hồi tiếp tục tích cực song báo cáo Cập nhật và chia sẻ của các chuyên gia ADB cũng cho rằng con đường còn nhiều khó khăn, rủi ro đối với triển vọng kinh tế vẫn cao. Các điều kiện tài chính thắt chặt để đối phó với lạm phát và suy giảm kinh tế toàn cầu kéo nhu cầu giảm và có thể tác động đến xuất khẩu, kiều hối nặng nề hơn so với dự báo, khiến cán cân tài khoản vãng lai xấu đi. Mặc dù các đợt tăng lãi suất quyết liệt của NHTW lớn đã góp phần giảm áp lực tăng giá trên toàn cầu nhưng sự gia tăng bất ổn địa-chính trị vẫn có thể đẩy giá hàng hóa lên cao trở lại, kết hợp với tiêu dùng trong nước tăng gây áp lực đến lạm phát.

Trong khi đó, dịch Covid-19 có thể tái bùng phát; đà kinh doanh bắt đầu chững lại (thể hiện qua số doanh nghiệp đăng ký mới giảm nhẹ trong tháng 8/2022); tình trạng lao động thiếu hụt sẽ cản trở sự phục hồi nhanh chóng của khu vực dịch vụ và các lĩnh vực xuất khẩu sử dụng nhiều lao động trong năm 2022…

Về các lĩnh vực cụ thể, báo cáo Cập nhật hạ dự báo tăng trưởng khu vực nông nghiệp năm nay xuống 3% (từ mức dự báo 3,5% trước đó) do chi phí đầu vào cao có thể hạn chế tăng trưởng của ngành. Cầu trên thị trường thế giới giảm có thể làm giảm xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng ngành chế biến chế tạo, theo đó dự báo tăng trưởng công nghiệp sẽ giảm từ 9,5% xuống 8,5%. Tuy nhiên tăng trưởng ngành dịch vụ tốt hơn, dự báo sẽ giúp bù đắp phần nào. Theo đó, tăng trưởng khu vực dịch vụ được điều chỉnh tăng từ mức 5,5% trước đó lên 6,6% trong năm 2022.

Tiếp tục bàn về áp lực với CSTT, ông Nguyễn Minh Cường cho rằng từ giờ đến cuối năm, dư địa điều hành CSTT giảm đi rất nhiều, đặc biệt sau lần tăng lãi suất mạnh tháng 9 của Fed và có thể tiếp tục các lần tăng nữa trong năm nay. “Việt Nam không nên quá vội vàng, chịu sức ép trong cuộc chạy đua thắt chặt CSTT, vì vẫn có dư địa và cơ hội để duy trì được CSTT linh hoạt để cân bằng giữa việc vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh các nền tảng KTVM vẫn ổn định. Tuy nhiên, dư địa điều hành CSTT giảm đi nhiều và điểm quan trọng ở đây là CSTT không thể đứng một mình được mà cần kết hợp hài hòa cùng CSTK”, ông Cường nói và lưu ý tới thế “kẹt” về dư địa thời gian.

Theo chuyên gia này, hiện một số động lực tăng trưởng đang có dấu hiệu suy giảm và một trong những động lực giúp bù đắp quan trọng là giải ngân đầu tư công và các gói trong Chương trình phục hồi. “Nếu làm tốt việc này thì đây là động lực tăng trưởng quan trọng trong quý IV tới và cả năm 2023. Tuy nhiên, việc giải ngân đầu tư công và gói hỗ trợ phục hồi còn rất hạn chế nên cần phải hết sức tranh thủ thời gian từ nay đến cuối năm để thúc đẩy động lực này, qua đó hỗ trợ duy trì được tăng trưởng trong phần còn lại của 2022 và 2023”, ông Cường khuyến nghị.

Cùng quan điểm tiếp cận vấn đề như ông Nguyễn Minh Cường nhưng theo cách ngược lại, báo cáo Cập nhật nhấn mạnh, việc chậm thực hiện đầu tư công và các cấu phần trong Chương trình phục hồi theo kế hoạch sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng trong năm nay và năm sau.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.560 23.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.580 23.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.560 23.860 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.840 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.560 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.580 23.975 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.630 23.880 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.600
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.600
66.400
Vàng SJC 5c
65.600
66.420
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
50.200
50.800