Ngắn hạn nhiều biến động nhưng triển vọng vẫn rất tích cực

11:02 | 14/07/2021

Động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ. Khi dịch bệnh được kiểm soát, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phục hồi mạnh mẽ do công nghệ dẫn đầu và triển vọng FDI đầy hứa hẹn, khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia giàu tiềm năng nhất trong khu vực. Do đó, Khối Nghiên cứu HSBC trong dự báo mới nhất nâng tăng trưởng GDP năm 2022 lên 6,8% (từ 6,5%).

ngan han nhieu bien dong nhung trien vong van rat tich cuc Nhìn lại lạm phát và tăng trưởng 6 tháng: Bất thường hay bình thường?
ngan han nhieu bien dong nhung trien vong van rat tich cuc UOB dự báo tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam ở mức 6,7%
ngan han nhieu bien dong nhung trien vong van rat tich cuc
Ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc Khối ngoại hối và thị trường vốn, HSBC Việt Nam

Kinh tế thế giới nói chung đã và đang cho thấy dấu hiệu phục hồi từ mức tăng trưởng rất thấp của năm 2020, với tốc độ hồi phục thậm chí nhanh hơn kì vọng, đặc biệt ở một số quốc gia và vùng khu vực như Mỹ và châu Âu - nơi mà mà lộ trình tiêm vắc-xin đã góp phần đẩy nhanh tiến trình này. Đã xuất hiện sự lạc quan về đà phục hồi kinh tế ở nhiều nước, nhưng vẫn còn đó nhiều rủi ro đối với triển vọng cả tăng trưởng và lạm phát.

Cho tới khi vắc-xin trở nên phổ biến hơn trên toàn thế giới và nguy cơ biến thể mới giảm dần, Covid-19 vẫn là rủi ro lớn nhất và một số quốc gia sẽ vẫn phải đối mặt với những hạn chế về khả năng di chuyển trong nước và gián đoạn hoạt động.

Ngoài ra, một yếu tố chính đã giúp vực dậy tăng trưởng kinh tế là các gói hỗ trợ cả về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, song song với đà hồi phục mạnh mẽ của GDP là nỗi lo lạm phát trở lại, với nhiều ý kiến cho rằng lạm phát sẽ tăng nóng trong lâu dài thay vì chỉ mang tính chất tạm thời.

Vì lí do đó, ngân hàng trung ương (NHTW) nhiều quốc gia đã không còn áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua hoạt động bơm thanh khoản vào thị trường, thậm chí đã có một số NHTW nâng lãi suất hoặc bắt đầu nhắc tới lộ trình nâng lãi suất và hút thanh khoản trở lại trong tương lai gần.

Đối với thị trường tài chính quốc tế, các tín hiệu và hành động của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) luôn có tầm ảnh hưởng rất lớn. Cụ thể, với việc Fed ra tín hiệu tương đối “diều hâu” trong cuộc họp tháng Sáu vừa qua với lộ trình nâng lãi suất hai lần vào năm 2023 và khả năng giảm mua lại tài sản, thị trường tài chính đã trải qua nhiều phiên biến động mạnh.

Hiện tại một làn sóng Covid-19 mới đang tiếp tục càn quét các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Dịch Covid-19 bùng phát tại nhiều địa phương trên cả nước với những diễn biến phức tạp, khó lường đã đặt ra nhiều thách thức, rủi ro cho trong việc thực hiện mục tiêu kép "vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế".

Bất chấp việc số ca nhiễm tăng nhanh, số liệu kinh tế vĩ mô 6 tháng đầu năm 2021 vẫn cho thấy những tín hiệu đáng khích lệ. Theo Tổng cục thống kê, GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6 tháng đầu năm 2020 mặc dù còn thấp hơn cùng kỳ năm 2018 và 2019.

Mặt khác, lạm phát duy trì ở mức tương đối ổn định. Nhìn chung, theo quan điểm của chúng tôi, lạm phát sẽ được kiềm chế tốt trong năm nay. Khối Nghiên cứu HSBC dự báo lạm phát trung bình vào khoảng 2,8% trong năm 2021, thấp hơn nhiều so với mức chỉ tiêu tối đa 4% mà Quốc Hội đề ra.

Bất chấp khả năng kinh tế hồi phục mạnh mẽ tại các quốc gia phương Tây, thách thức cho tăng trưởng của Việt Nam nằm nhiều hơn ở các yếu tố nội tại. Mặc dù các dữ liệu vĩ mô chính của 6 tháng đầu năm vẫn cho thấy xu hướng tương đối ổn định, nhưng làn sóng dịch bệnh hiện tại có thể gây ra những áp lực đáng kể đối với mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% đã đề ra trong năm nay.

Các ổ dịch gần đây làm dấy lên lo ngại về việc gián đoạn sản xuất trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế bền vững của Việt Nam. Đặc biệt, biến thể mới của Covid-19 và tốc độ tiêm vắc-xin chậm sẽ tiếp tục gây trì hoãn việc mở cửa trở lại biên giới cho khách du lịch đại chúng và các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, Khối Nghiên cứu HSBC hạ dự báo tăng trưởng năm 2021 xuống 6,1% (từ 6,6% trong lần dự báo trước).

Tuy nhiên, trong dài hạn, động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ. Khi dịch bệnh được kiểm soát, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phục hồi mạnh mẽ do công nghệ dẫn đầu và triển vọng FDI đầy hứa hẹn, khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia giàu tiềm năng nhất trong khu vực. Do đó, dự báo tăng trưởng năm 2022 hiện tại được nâng lên 6,8% (từ 6,5%).

Để phục hồi bền vững trở lại đúng hướng, điều quan trọng là phải nhanh chóng ngăn chặn đà lây lan của virus và đẩy nhanh chương trình tiêm chủng toàn quốc. Với việc phải đóng cửa nhiều khu công nghiệp và giãn cách xã hội kéo dài, chắc chắn đà tăng trưởng trong quý III nói riêng và nửa sau của năm 2021 đặt ra rất nhiều thách thức. Do đó, cần có những chính sách kịp thời cả về tài khóa và tiền tệ nhằm hỗ trợ hơn nữa cho doanh nghiệp và người dân vượt qua những khó khăn này.

Về tỷ giá, tiếp nối xu hướng biến động mạnh của năm 2020, trải qua 6 tháng đầu năm nay đồng USD vẫn cho thấy nhiều biến động mạnh. Chỉ số USD Index bật tăng trở lại vào nửa cuối tháng 6, ngay sau phiên họp chính sách của Fed. Với việc đồng bạc xanh tăng mạnh trở lại, các đồng tiền trong khu vực châu Á chịu áp lực suy yếu tương ứng, và đồng Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Mặc dù trong hầu hết thời gian 6 tháng đầu năm 2021, tỷ giá USD-VND đa phần giao dịch trong biên độ 23.010-23.100 với xu hướng thiên về tiền VND tăng giá, nhưng dường như tình hình có xu hướng đảo ngược sau kì họp gần nhất của Fed.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tiếp tục mua vào lượng lớn ngoại tệ qua nghiệp vụ kỳ hạn, trước khi quyết định hạ giá mua 150 đồng xuống 22.975 vào tuần đầu tháng 6, cho thấy dư địa để VND có thể tăng giá thêm trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, nhìn về trung và dài hạn, đặc biệt từ nay đến cuối năm, vẫn không bỏ ngỏ khả năng VND chịu áp lực mất giá trở lại với mức dự báo 23.100 vào cuối năm nay. Một trong những nguyên nhân có thể kể đến như cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu, mối lo về giá cả hàng hóa cao hơn cùng khả năng lãi suất Mỹ bước vào chu kỳ tăng trở lại.

Nhìn chung, có một điều khá chắc chắn rằng tỷ giá USD-VND sẽ khó duy trì được xu hướng bình ổn như đã từng trải qua trong 6 tháng cùng kỳ 2020, thay vào đó sẽ có nhiều biến động hơn trong 6 tháng cuối năm, đến từ biến động trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các động thái của Fed trong những tháng tiếp theo, cũng như những rủi ro nội tại mà Covid-19 tạo ra.

Trong khi đó về xu hướng lãi suất, tình trạng vật giá leo thang đang khiến thị trường tài chính bắt đầu tỏ ra quan ngại khi NHTW các nước bắt đầu phải tính đến chuyện siết van thanh khoản và nâng lãi suất điều hành. Tuy nhiên, mối lo ngại này dường như tập trung nhiều hơn ở các quốc gia phương Tây, trong khi đó ở các quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam, chưa cho thấy áp lực của lạm phát khi áp lực chủ yếu đến từ giá cả đầu vào thay vì cầu kéo.

Nhưng nếu đặt trong bối cảnh lạm phát tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài thay vì mang tính thời điểm, thì khả năng nâng lãi suất điều hành là có thể xảy ra. Ở mặt khác, cơ quan điều hành cũng cần cân nhắc để tránh việc nâng lãi suất quá sớm và/hoặc quá nhanh trong bối cảnh kinh tế vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh.

Do đó, các doanh nghiệp cần tiếp tục chủ động trong các nghiệp vụ phòng vệ rủi ro, bao gồm rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, nhằm đạt mục đích quản trị rủi ro trong kinh doanh.

Ngô Đăng Khoa, Giám đốc Khối ngoại hối và thị trường vốn, HSBC Việt Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800