Ngân hàng củng cố nội lực để vượt bão Covid

09:35 | 26/02/2021

Giữa bối cảnh khó khăn chung, ngân hàng vẫn sẽ có những lợi thế nhất định nếu biết cách khai thác và tận dụng phù hợp.

cung co noi luc de vuot bao covid Người vay "được nhờ" khi lãi suất cho vay tiếp đà giảm
cung co noi luc de vuot bao covid Gửi tiền nhỏ lẻ ở ngân hàng có lợi?
cung co noi luc de vuot bao covid Triển vọng sáng với kinh tế Việt Nam năm 2021

Tăng trích lập, giảm mối lo nợ xấu

Năm 2021 tiếp tục được đánh giá là một trong những năm đầy thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Dễ nhận thấy nhất là nguy cơ nợ xấu khi dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp. Kéo theo đó là dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao khiến lợi nhuận có xu hướng giảm, chưa kể có thể các NHTM có thêm các đợt giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp…

Song giữa bối cảnh khó khăn chung, ngân hàng vẫn sẽ có những lợi thế nhất định nếu biết cách khai thác và tận dụng phù hợp. Như tại Vietcombank, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nghiêm Xuân Thành cho hay: tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng năm 2020 được kiểm soát ở mức thấp nhất lịch sử khi chỉ ở mức 0,6%/tổng dư nợ. Trong khi Vietcombank cũng đã tăng mạnh quỹ dự phòng rủi ro với tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu ở mức kỷ lục đến cuối năm 2020 đạt tới 380%.

cung co noi luc de vuot bao covid
Trong khó khăn, ngân hàng cũng sẽ có cơ hội thể hiện và khẳng định mình rõ nét hơn

Ông Trần Minh Bình - Tổng giám đốc VietinBank cũng chia sẻ, nợ xấu của ngân hàng này giảm mạnh từ 1,2% năm 2019 xuống dưới 1% vào năm 2020. Nợ xấu giảm nên tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu tại VietinBank tăng từ 120% lên 130%.

Với BIDV cũng vậy, việc kiểm soát chặt chất lượng tài sản cũng như tích cực xử lý nợ xấu và tăng trích lập dự phòng đã củng cố thêm sự vững chắc trong hoạt động của nhà băng này. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu năm qua của BIDV giảm xuống 1,76%, trong khi tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu tăng lên 88,4% - đều ở mức tốt nhất trong 6 năm qua.

Các ngân hàng trong khối cổ phần cũng có động thái tương tự. Như trường hợp MB, đến cuối năm 2020 tỷ lệ nợ xấu của nhà băng này giảm xuống 1,09% - mức thấp nhất trong 13 năm qua; trong khi tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu ở mức cao nhất là 134%. SSI nhận định, những nỗ lực của ngân hàng này để giải quyết tài sản có vấn đề trong quý IV/2020 khiến áp lực dự phòng nợ xấu sẽ thấp hơn trong năm 2021…

Hay SHB, tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ cũng giảm mạnh xuống mức 1,6%. Trong khi việc tăng cường chi phí dự phòng cũng giúp cho tỷ lệ bao phủ nợ xấu cuối 2020 của SHB ở mức 70%. “Tỷ lệ bao phủ nợ xấu càng cao càng giúp ngân hàng nâng cao tính an toàn cho chất lượng tài sản, chống chịu tốt hơn trong các giả định nợ xấu trên thị trường tăng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, lợi nhuận trong tương lai sẽ ổn định hơn bởi áp lực trích lập dự phòng ít hơn”, Tổng giám đốc SHB Nguyễn Văn Lê chia sẻ.

Có thể thấy một mẫu số chung cho hoạt động của các nhà băng để giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh Covid-19 là đẩy mạnh số hóa, tập trung triển khai các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số. Theo lãnh đạo TPBank, mô hình ngân hàng tự động LiveBank hiện có thể cung cấp tới 90% dịch vụ cho khách hàng so với ngân hàng truyền thống, khắc phục được hạn chế thiếu các điểm giao dịch. MB cũng đặt mục tiêu tập trung chuyển đổi số hóa toàn diện đối với hoạt động ngân hàng từ kinh doanh đến quản lý, vận hành, quản trị rủi ro, nhân lực…

Bên cạnh đó, các TCTD đã từng bước chuyển đổi mô hình kinh doanh từ lệ thuộc vào hoạt động tín dụng sang mô hình kinh doanh đa dịch vụ. Chủ tịch BIDV Phan Đức Tú cho hay, ngân hàng này đã xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh đa dịch vụ, mô hình kinh doanh ít vốn; cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm, tiện ích, có hàm lượng công nghệ cao. Thành công bước đầu của hướng đi này là tổng thu dịch vụ của BIDV năm 2020 là 6.750 tỷ đồng - tăng gấp 1,8 lần so với năm 2016…

Giấy thông hành “Basel II”

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, ngân hàng sẽ có lợi thế khi biết cách tạo ra những ưu thế. Đơn cử thực hiện Basel II là điểm cộng rất lớn, nhất là trong mắt các cơ quan quản lý. “Trường hợp như khi chạm mốc tăng trưởng tín dụng, những nhà băng nào đã triển khai được Basel II chắc chắn sẽ có những ưu tiên nhất định từ phía cơ quan quản lý trong việc xem xét được nới thêm room tín dụng”, chuyên gia này cho hay.

Trên thực tế các TCTD càng ngày càng nhận thức được rõ rệt giá trị của việc tăng cường công tác quản trị rủi ro, kiểm tra giám sát, tách bạch chức năng, nhiệm vụ, thực hiện đúng vai trò của HĐQT, Ban Kiểm soát, Ban điều hành, tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Đơn cử như Vietcombank và VIB là hai ngân hàng Việt Nam đầu tiên được chấp thuận cho thực hiện chuẩn mực quản trị rủi ro Basel II sớm hơn một năm so với thời hạn quy định tại Thông tư 41 năm 2016. Việc áp dụng Basel II không chỉ góp phần mang lại cho cả VIB và Vietcombank sự vượt trội về hiệu quả kinh doanh, quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp, mà còn góp phần lan toả xu hướng này trong toàn hệ thống ngân hàng.

Vì thế trong năm 2020, dù ảnh hưởng mạnh mẽ của Covid-19, nhưng hệ thống đã ghi nhận nhiều ngân hàng đạt chuẩn Basel II với gần 20 nhà băng, và nhiều ngân hàng đã hoàn tất cả ba trụ cột của chuẩn này. Thậm chí nhiều ngân hàng đang bắt tay vào triển khai Basel III.

Ông Hàn Ngọc Vũ - Tổng giám đốc VIB nhấn mạnh, việc áp dụng Basel II làm lành mạnh hoá và minh bạch toàn bộ quy trình, quy định nội tại của ngân hàng. Basel II yêu cầu các ngân hàng áp dụng các hệ số rủi ro khác nhau đối với các phân khúc khách hàng, sản phẩm và loại tài sản đảm bảo khác nhau, từ đó quyết định đến mức vốn của ngân hàng. Do vậy, để tối ưu hoá vốn chủ sở hữu, các ngân hàng sẽ có xu hướng ưu tiên cấp tín dụng và giảm giá cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, minh bạch, hệ số nợ tối ưu, tài sản đảm bảo tốt, có xếp hạng tín nhiệm tốt và có rủi ro tín dụng thấp. Cũng theo CEO này, khi được sự tư vấn của ngân hàng áp dụng Basel II, bản thân các khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng sẽ tự chuyển đổi nội bộ, cải tiến hệ thống quản trị và vận hành doanh nghiệp để phù hợp hơn với các tiêu chí theo chuẩn quốc tế của ngân hàng, nhờ đó chi phí vay cho các doanh nghiệp cũng được tối ưu hơn.

Một chuyên gia tài chính cũng thừa nhận, việc coi trọng quản trị rủi ro, nhất là khi các ngân hàng xây dựng những mô hình kiểm tra sức chịu đựng (stress-test) để đánh giá mức độ đủ vốn trong những năm tiếp theo ở cả điều kiện bình thường và điều kiện diễn biến bất lợi sẽ là cơ sở để mỗi ngân hàng phát triển chiến lược kinh doanh bền vững, toàn diện, sử dụng vốn một cách hiệu quả, từ đó cung cấp các sản phẩm tài chính, phi tài chính an toàn, tin cậy và minh bạch cho khách hàng.

Minh Khuê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850