Ngân hàng hỗ trợ phát triển “đồng ruộng không dấu chân”

09:06 | 13/07/2022

Thời điểm hiện nay là thời điểm rất thuận lợi để các NHTM mở rộng hợp tác tài trợ vốn cho các dự án vùng nguyên liệu nông sản hàng hóa, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khép kín dựa trên liên kết 4 nhà, bao gồm nhà nông – doanh nghiệp – địa phương và nhà băng.

Đầu tháng 7, CTCP Tập đoàn Lộc Trời và Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) đã hợp tác với ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang thực hiện dự án phát triển vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao với quy mô 300.000 hecta. Để thực hiện dự án, ngân hàng cam kết sẽ cung cấp gói tín dụng trị giá 12.000 tỷ đồng/năm cho tất cả các hoạt động sản xuất tương ứng với diện tích vùng nguyên liệu, thông qua các hợp tác xã, liên minh hợp tác xã đang liên kết với Lộc Trời. Gói tín dụng này có thời hạn hết năm 2024, sau đó, các bên sẽ quyết định gia hạn.

Trước khi hợp tác với MB, vào quý I/2022, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) hình thành “Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 - 2025”, Tập đoàn Lộc Trời cũng đã hợp tác với các TCTD, bao gồm BIDV, VPBank, HDBank, HSBC, Mizuho, Kasikorn, Rock River Capital để phát triển vùng nguyên liệu lúa gạo 100.000 hecta tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Các ngân hàng cam kết sẽ tài trợ 12.000 tỷ đồng trong năm 2022 để doanh nghiệp này phân bổ cho chuỗi liên kết bao gồm các doanh nghiệp, đại lý thuộc lĩnh vực vật tư nông nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ, thương mại và các nông hộ, hợp tác xã.

ngan hang ho tro phat trien dong ruong khong dau chan

Câu chuyện của Tập đoàn Lộc Trời là một trong những ví dụ tiêu biểu cho thấy hoạt động tài trợ vốn cho các vùng nguyên liệu lớn đang rất được các NHTM quan tâm. Bởi hiện nay, với các đề án tái cấu trúc nông nghiệp, nhiều địa phương đã bắt tay với các tập đoàn nông nghiệp lớn như Vingroup, Vinamilk, Lộc Trời, Trung An, Vinaseed, Tân Long, Néstle… để phát triển các vùng nguyên liệu nông sản dựa trên các thế mạnh vốn có. Hiện Bộ NN&PTNT cũng đang rất chú trọng phát triển các vùng nguyên liệu lớn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và tiêu thụ trong nước.

Chẳng hạn, đề án xây dựng vùng nguyên liệu nông lâm sản giai đoạn 2022-2025 được phê duyệt vào cuối quý I/2022, ngành Nông nghiệp đã đề xuất sử dụng trên 1.350 tỷ đồng ngân sách từ Trung ương và địa phương để xây dựng 5 vùng nguyên liệu tại 13 tỉnh, thành. Trong đó, các dự án thực hiện ngay năm nay và năm 2023 có quy mô hàng trăm hecta, bao gồm: Dự án vùng cây ăn quả miền núi phía Bắc, Dự án rừng trồng khu vực duyên hải miền Trung, Dự án vùng lúa gạo khu vực tứ giác Long Xuyên; Dự án vùng cà phê Tây Nguyên; Dự án vùng cây ăn quả Đồng Tháp Mười. Các dự án này đều được ngân sách đầu tư hàng trăm tỷ đồng để triển khai thực hiện.

Theo một đại diện Bộ NN&PTNT, hiện nay các dự án kể trên đã được các doanh nghiệp như: CTCP Đồng Giao, Tập đoàn Vina T&T; Tập đoàn Lộc Trời, Tân Long, Trung An, Scansia Pacific, Kim Nhung, Hòa Lộc RR… đăng ký hợp tác với các địa phương để triển khai. Ngoài nguồn vốn ngân sách hỗ trợ và vốn tự có, các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu vay thêm khoảng 20% để phát triển các chuỗi hợp tác sản xuất lớn.

Riêng các ngân hàng như Agribank, MB, LienVietPostBank, NHCSXH… đã có văn bản hợp tác và cam kết cung ứng vốn, trong khi Công ty bảo hiểm ABIC cũng cam kết cung ứng như dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp cho các dự án vùng nguyên liệu. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ như liên doanh Việt-Pháp NEOTIQ, Liên hiệp HTX kinh tế số (VDECA); Hợp tác xã nông nghiệp số; hệ sinh thái AFDEX, CTCP Sorimachi (Nhật Bản)... cũng đã hợp tác với nhiều địa phương để hỗ trợ số hóa, cơ giới hóa đồng ruộng, đồng thời triển khai các giải pháp “canh tác không tiền mặt” và sản xuất nông nghiệp theo hướng “đồng ruộng không dấu chân”.

Theo kế hoạch, trong các năm 2024-2025, ngân sách Trung ương và địa phương sẽ tiếp tục tài trợ hơn 60% để đầu tư mở rộng 5 trung tâm sơ chế, chế biến, bảo quản nguyên liệu, bao gồm các trung tâm logistic cho vùng lúa gạo tại An Giang, trung tâm chế biến, bảo quản cho vùng nguyên liệu lúa-tôm hữu cơ tại Kiên Giang, Sóc Trăng, các trung tâm phục vụ vùng cây ăn quả tại Đồng Tháp và vùng cà phê tại Gia Lai. Dự kiến, các dự án này sẽ có nhu cầu huy động gần 500 tỷ đồng để hoàn thiện các khâu đoạn liên kết vùng nguyên liệu.

Bộ NN&PTNT sẽ phối hợp với ngành Ngân hàng, triển khai hỗ trợ tín dụng cho hơn 100 hợp tác xã tham gia vào các dự án. Các khoản vay sẽ được ưu đãi lãi suất theo quy định tại Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng thời áp dụng các chính sách hỗ trợ phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định số 98/2018 của Chính phủ. Chính vì vậy, thời điểm hiện nay là thời điểm rất thuận lợi để các NHTM mở rộng hợp tác tài trợ vốn cho các dự án vùng nguyên liệu nông sản hàng hóa, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khép kín dựa trên liên kết 4 nhà, bao gồm nhà nông – doanh nghiệp – địa phương và nhà băng. Từ đó thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tín dụng phục vụ xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp chủ lực, đồng thời mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và triển khai rộng khắp các dịch vụ ngân hàng số tại khu vực nông thôn.

Đỗ Cường

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.650 23.960 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.700 23.980 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.680 23.980 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.600 23.900 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.690 23.960 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.650 24.000 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.700 23.950 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.678 23.990 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.570 24.025 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.740 24.000 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.750
65.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.750
65.750
Vàng SJC 5c
64.750
65.770
Vàng nhẫn 9999
51.100
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.600