Ngân hàng mạnh tay hơn trong trích lập dự phòng

19:07 | 17/06/2021

Trong báo cáo "FiinPro Digest #8" gửi tới khách hàng mới đây, FiinGroup nhận định, các ngân hàng đã mạnh tay hơn trong việc trích lập để chuẩn bị bộ đệm lớn hơn dự phòng rủi ro có thể xảy ra. Sang năm 2022, giới phân tích vẫn duy trì dự báo tăng trưởng cao với lợi nhuận sau thuế ở mức 33,8%.

ngan hang manh tay hon trong viec trich lap du phong Triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III
ngan hang manh tay hon trong viec trich lap du phong
Ngân hàng tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng cao

Theo FiinGroup, lợi nhuận của ngành ngân hàng tăng trưởng rất tốt bất chấp COVID-19. Tổng thu nhập hoạt động quý I/2021 tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước mặc dù có giảm nhẹ 1,2% so với quý IV/2020 nhờ tăng trưởng cả thu nhập lãi thuần và thu nhập dịch vụ (thanh toán và bán chéo bảo hiểm).

Trong khi đó, sau khi tăng mạnh trong quý IV/2020, tỷ lệ dự phòng rủi ro trên nợ xấu và nợ cần chú ý tiếp tục tăng. Như vậy, các ngân hàng đã mạnh tay hơn trong việc trích lập để chuẩn bị bộ đệm lớn hơn dự phòng rủi ro có thể xảy ra. Mặt khác, một phần quỹ trích lập có thể được hoàn nhập, góp phần vào lợi nhuận tương lai.

Hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng tiếp tục được cải thiện cùng với quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập (CIR) liên tục giảm qua các năm và tiếp tục giảm xuống mức thấp kỷ lục trong quý I/2021.

Dư nợ cho vay cá nhân của các ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn, dẫn đến rủi ro tín dụng được phân tán, mặc dù dịch bệnh có thể làm ảnh hưởng đến thu nhập của một bộ phận khách hàng nhất định. Hơn nữa, các ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19 đều có tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu dư nợ theo ngành.

Tuy nhiên, vấn đề là tín dụng cá nhân, thường là nguồn thu tín dụng lớn và đóng góp lớn vào NIM của các ngân hàng trong thời gian qua, đã có dấu hiệu chững lại và chỉ ngang bằng với tín dụng doanh nghiệp.

ngan hang manh tay hon trong viec trich lap du phong
Cổ phiếu ngân hàng có sức hấp dẫn lớn với nhà đầu tư trong thời gian qua

Nhận định về cổ phiếu ngành ngân hàng, báo cáo này cho biết, cổ phiếu ngân hàng nói chung 34,4% từ đầu năm 2021 và nhiều cổ phiếu đã tăng gấp đôi trong vòng 3 tháng qua trên nền dự báo tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 23,8% trong năm 2021. Với mặt bằng giá này, cổ phiếu ngân hàng đang được định giá ở mức 2,5x Giá trị Sổ sách và 17,1x lợi nhuận dự báo cả năm 2021.

Kết quả này, theo nhóm phân tích, đã phần nào được phản ánh vào giá cổ phiếu, khi chỉ số giá cổ phiếu ngân hàng tăng hơn 34% từ đầu năm. Dù trong những ngày gần đây, giá cổ phiếu ngân hàng chịu áp lực chốt lời từ nhà đầu tư nhưng FiinGroup khuyến nghị "Khách hàng nên đánh giá từng cổ phiếu riêng lẻ trong xem xét này".

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, vẫn có những thành viên thị trường kỳ vọng cao hơn cho nhóm ngân hàng, với dự báo tốc độ tăng trưởng về kinh doanh trung hòa lại mức tăng cao về thị giá cổ phiếu.

Đánh giá chung về thị trường chứng khoán Việt Nam, báo cáo FiinPro Digest #8 cho biết, P/E của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện ở mức 18,6x và P/E tương lai (forward) ở mức 17,8x. Kết quả này dựa trên dự báo tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 20,7% của khối doanh nghiệp phi tài chính và 23,8% của các ngân hàng cho năm 2021 và mức 33,4% nói chung cho cả năm 2022.

Theo FiinGroup, mặc dù đã tăng mạnh gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn có mức định giá rất hấp dẫn về trung hạn trong mối tương quan với triển vọng lợi nhuận 2021 và 2022. Mức định giá P/E chưa ở mức quá cao trong bối cảnh tiền rẻ và dư thừa cung tiền, nhu cầu đầu tư tăng cao của người dân như cứu cánh làm giàu.

Nhiều ý kiến cho rằng thị trường đang ở giai đoạn bùng nổ giai đoạn đầu 2007 và sau đó bước vào giai đoạn khủng hoảng và thoái trào sau đó đến tận 2015. Tuy nhiên, theo rà soát và các chỉ số định giá cũng như bối cảnh thị trường thì chưa cho thấy điều đó ngoại trừ các yếu tố “bùng nổ” về sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân và dòng tiền mới.

H.Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700