Ngân hàng phát triển ra ngoại thành

09:20 | 16/06/2022

Không ít ngân hàng đang tăng sự hiện diện ở khu vực nông thôn với việc mở mới các chi nhánh và phòng giao dịch. Điều đó đã góp phần tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cho người dân, qua đó hạn chế hoạt động của các loại hình tín dụng đen.

Hàng trăm điểm giao dịch được mở mới

Theo ghi nhận của Thời báo Ngân hàng, từ đầu năm đến nay, ít nhất đã có khoảng 15 NHTM được NHNN cho phép mở mới các phòng giao dịch hoặc chi nhánh tại địa bàn các tỉnh, thành phố tập trung nhiều khu công nghiệp và đông dân cư.

Trong đó, Vietcombank là ngân hàng “chịu khó” mở rộng địa bàn nhất với 14 chi nhánh, phòng giao dịch được mở mới tại các tỉnh, thành: Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Đồng Nai và Long An.

Ngoài Vietcombank, các ngân hàng VietinBank và BIDV thời gian qua cũng đã mở thêm một loạt chi nhánh, phòng giao dịch tại Quế Võ (Bắc Ninh), Thọ Xuân (Thanh Hóa), Diễn Châu (Nghệ An) và Pleiku (Gia Lai).

ngan hang phat trien ra ngoai thanh
Các ngân hàng tăng cường mở mới điểm giao dịch ở các vùng công nghiệp

Ở khối NHTMCP, các ngân hàng như VietCapital Bank, BacABank, Kienlongbank, NamABank, TPBank, Techcombank và HDBank cũng tham gia mở rộng địa bàn nhiều nhất tại các tỉnh, thành phố ngoài Hà Nội và TP.HCM.

Đơn cử, trong hai quý đầu năm 2022, BacABank đã liên tiếp thành lập 5 chi nhánh mới tại Hòa Bình, Hải Dương, Bình Thuận, Đồng Tháp và An Giang. Viet Capital Bank, trong tháng 4, đồng loạt khai trương 1 chi nhánh và 12 phòng giao dịch mới, đặc biệt, chi nhánh Bắc Giang khai trương vào cuối tháng 4/2022 là điểm giao dịch thứ 100 của Viet Capital Bank và là tỉnh thành thứ 30 có hiện diện ngân hàng này.

Trong khi đó, NamABank mở thêm 4 chi nhánh tại Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Phú Yên và dự kiến mở thêm 2 chi nhánh tại Nghệ An và Bạc Liêu. Sau khi mở mới thành công 21 chi nhánh, phòng giao dịch trong năm qua, HDBank đã mở thêm 3 chi nhánh tại các tỉnh miền núi phía Bắc là Yên Bái, Cao Bằng và Tuyên Quang nâng tổng số điểm giao dịch của HDBank lên 329 điểm trên cả nước.

Không chỉ ngân hàng nội, các ngân hàng nước ngoài cũng đã tập trung mở rộng địa bàn về các địa phương có vùng công nghiệp phát triển, nhiều công nhân, người lao động trong bối cảnh nhiều địa phương dồn dập mở mới các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Chẳng hạn mới đây, Shinhan Việt Nam đã mở thêm hai chi nhánh tại Quế Võ (Bắc Ninh) và Biên Hòa (Đồng Nai). Trong khi đó, Public Bank Berhab cũng đã thành công mở thêm 4 chi nhánh tại Hà Nội, TP.HCM và Quảng Nam.

Trải rộng độ phủ của tín dụng chính thống

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc mở mới các chi nhánh, phòng giao dịch ngoài Hà Nội và TP.HCM của các ngân hàng là diễn biến tích cực cho thấy quá trình phổ cập và phổ biến dịch vụ tài chính – ngân hàng tại Việt Nam đang có những bước tiến bền vững.

Đại diện Navigos Group – một đơn vị nghiên cứu thị trường lao động ngành tài chính - ngân hàng cho rằng, sau đại dịch Covid-19 hoạt động số hóa và giao dịch trực tuyến trở nên phổ biến. Các ngân hàng sẽ có xu hướng cơ cấu lại mạng lưới điểm giao dịch, đồng thời mở thêm các chi nhánh ở các địa bàn nông thôn có vùng khu công nghiệp nhằm tranh thủ phát triển sản phẩm, dịch vụ truyền thống.

Nếu trước đây các ngân hàng đua nhau xin giấy phép mở mới mạng lưới giao dịch ở các đô thị lớn, thì nay không ít nhà băng đã chuyển hướng về khu vực nông thôn, đặc biệt là vùng sâu vùng xa để khai thác các địa bàn này khi sức ép cạnh tranh tại các đô thị lớn ngày càng gay gắt.

Hơn nữa Thông tư 21/2013/TT-NHNN của NHNN quy định, các NHTM chỉ được phép thành lập tối đa 10 chi nhánh ở mỗi khu vực nội thành Hà Nội và TP.HCM. Khi chấm dứt hoạt động chi nhánh tại nội thành Hà Nội và TP.HCM thì ngân hàng được phép thành lập tại các địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác số chi nhánh tương ứng với số chi nhánh đã chấm dứt hoạt động ngoài số lượng chi nhánh tối đa được phép thành lập trong một năm theo quy định.

Vì vậy, việc hàng loạt ngân hàng mở rộng địa bàn tại các tỉnh, thành phố ngoài Hà Nội, TP.HCM cho thấy số lượng chi nhánh ngân hàng ở các khu vực thành phố lớn đã đủ. Đồng thời hầu hết các ngân hàng cũng đã đáp ứng được các tiêu chí về sức khỏe tài chính để tham gia mở rộng địa bàn ở các khu vực mới.

Quan sát trên thị trường cho thấy, cùng với việc mở rộng địa bàn ở khu vực nông thôn, hiện nay các ngân hàng đều tận dụng tối đa ứng dụng công nghệ, tập trung phát triển các sản phẩm như: thẻ tín dụng nội địa, ví điện tử liên kết tài khoản, đồng thời bổ sung nhiều tiện ích thanh toán trên các app di động.

Các chi nhánh, phòng giao dịch được mở mới tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng nguyên liệu nông sản đều được các ngân hàng tính toán phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính hướng đến tệp khách hàng chưa tiếp cận dịch vụ ngân hàng, như: cho vay tiêu dùng qua hình thức thấu chi, cho vay tín chấp mua sắm nhà cửa, phương tiện vận tải, tài trợ vốn lưu động theo vòng quay sản xuất - kinh doanh, xuất khẩu…

Thực tế, trong thời gian qua ngân hàng số phát triển rất mạnh các dịch vụ mở tài khoản, thanh toán trực tuyến kết nối các nền tảng thanh toán, tuy nhiên mạng lưới truyền thống vẫn đang là một kênh tiếp cận người dân chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng.

Vì thế có thể nói, việc phủ rộng mạng lưới về các vùng nông thôn của hệ thống ngân hàng hiện nay đã giúp người dân, doanh nghiệp ở các địa phương tiếp cận tốt hơn các sản phẩm, dịch vụ tài chính chính thống và hạn chế sự bành trướng của các hình thức tín dụng đen. Hoạt động mở rộng địa bàn về khu vực nông thôn của các ngân hàng cũng chính là bàn đạp để hoàn thành mục tiêu đến cuối năm 2025 có ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM/100.000 người trưởng thành mà Chính phủ đã đặt ra trong chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2021-2025.

Tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ ngân hàng

Theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, hiện NHNN khuyến khích các NHTM mở rộng địa bàn ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã tăng cường hệ thống dịch vụ ngân hàng, cho vay tiêu dùng đến với mọi đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế còn khó khăn. Theo đó, ngoài các giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý để hỗ trợ hệ thống NHTM cho vay không cần những điều kiện quá phức tạp, hỗ trợ người dân tiếp cận những khoản tín dụng nhỏ, phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày, NHNN cũng đã chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển các dịch vụ cho vay, thanh toán trực tuyến, gắn với cải cách, đơn giản hóa thủ tục vay vốn nhằm gia tăng tiếp cận đến người dân, đáp ứng nhu cầu vay vốn chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000