Ngân hàng Trung ương Anh: Có thể sớm hạ lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng

10:36 | 15/01/2020

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) Mark Carney cho biết, lãi suất tại nước này có thể sớm được cắt giảm dù những lo ngại từ tác động việc Anh rời EU (Brexit) phần nào đã được giải tỏa.

Hiện tại, Ủy ban Chính sách tiền tệ của BOE đã tranh luận về các biện pháp kích thích trong ngắn hạn nhằm củng cố đà phục hồi tăng trưởng kinh tế theo dự báo và lạm phát của Anh.

Tại cuộc họp tháng 12/2019, 2 trong số 9 thành viên của MPC đã bỏ phiếu cho việc giảm lãi suất 25 điểm cơ bản từ mức 0,75% hiện nay. Các nhà quan sát cho rằng sẽ có thêm nhiều thành viên ủng hộ việc hạ lãi suất tại cuộc họp diễn ra cuối tháng 1 này.

Ảnh minh họa

Để ủng hộ cho kế hoạch giảm lãi suất, nhà hoạch định chính sách của BoE, Gertjan Vlieghe, cho rằng cuộc bỏ phiếu của ngân hàng này tại cuộc họp trong tháng này có thể cho thấy sự ủng hộ đối với việc cắt giảm lãi suất. Trong phát biểu gần đây nhất diễn ra vào cuối tuần trước, một nhà hoạch định chính sách khác là bà Silvana Tenreyro nói bà có thể ủng hộ việc hạ lãi suất từ mức 0,75% hiện nay nếu nền kinh tế không mạnh lên.

Trước đó, Thống đốc BoE, Mark Carney cũng cho biết Ủy ban chính sách tiền tệ của ngân hàng này đang xem xét việc tiến hành các biện pháp kích thích ngắn hạn.

Việc giảm lãi suất được đánh giá là một động thái phù hợp trong bối cảnh kinh tế  Anh vẫn đang tiếp tục chịu các tác động bất lợi từ Brexit và những tác động từ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2019 giảm dần qua các quý khi lần lượt đạt 2% trong quý I, 1,2% trong quý II và 1,1% trong quý III. Với những diễn biến như vậy, dự báo tăng trưởng kinh tế Anh năm 2019 ước đạt 1,3%, thấp hơn mức tăng 1,5% của năm ngoái.

Khu vực sản xuất chịu tác động nặng nề của tình hình bất ổn chính trị với đà mở rộng chậm dần qua các tháng, trong đó ghi nhận 4 tháng rơi vào tình trạng thu hẹp. Đáng chú ý kết thúc năm 2019 chỉ số PMI tổng hợp ở mức 49,3 điểm, là mức thu hẹp mạnh nhất kể từ tháng 7/2016.

Trong lĩnh vực tiêu dùng, doanh số bán lẻ hàng hóa chỉ hồi phục và đạt mức tăng trưởng cao trong 4 tháng đầu năm, diễn biến chậm lại trong những tháng sau đó, trong đó tháng 11 mức tăng trưởng chỉ còn đạt 1% so với cùng kỳ, mức tăng thấp nhất trong hoạt động bán lẻ kể từ tháng 4/2018.

Lạm phát duy trì ổn định quanh ngưỡng 2% trong 7 tháng đầu năm 2019, sau đó có xu hướng điều chỉnh giảm kể từ tháng 8, hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng 4 năm qua là 1,5%, phản ánh phần nào lo ngại về tình trạng suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000