Ngân hàng trung ương New Zealand bất ngờ giữ nguyên lãi suất

11:00 | 14/11/2019

NHTW New Zealand (Reserve Bank of New Zealand - RBNZ) hôm thứ Tư (13/11) đã bất ngờ giữ nguyên lãi suất, đi ngược lại kỳ vọng lãi suất sẽ được cắt giảm tiếp của thị trường. Cơ quan này cũng cho biết đã có dấu hiệu cho thấy sự chậm lại của nền kinh tế trong nước sẽ kết thúc và lạm phát sẽ tăng.

“Những diễn biến kinh tế kể từ sau thông báo chính sách tháng 8 không đủ để thay đổi chính sách kích thích tiền tệ đã được thiết lập tại thời điểm này”, RBNZ cho biết trong thông báo phát đi sau quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách (OCR) ở mức thấp kỷ lục 1,0%. Tuy nhiên cơ quan này cũng tuyên bố “sẽ bổ sung thêm kích thích tiền tệ nếu cần”.

Ảnh minh họa

Hiện thị trường đang đặt cược là RBNZ sẽ cắt giảm lãi suất 75 điểm cơ bản trong năm nay, bao gồm đã lần cắt giảm lãi suất tới 50 điểm đầy bất ngờ vào tháng 8, để phục hồi đà tăng trưởng kinh tế vào năm 2020 và đẩy lạm phát trở lại mức trung bình của khoảng mục tiêu 1-3%. Hầu hết các nhà kinh tế đã dự báo RBNZ sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất tại cuộc họp này và sẽ tiếp tục nới lỏng thêm vào năm tới sau khi kỳ vọng lạm phát giảm và thị trường lao động chậm lại.

“Chúng tôi vẫn cho rằng RBNZ quá lạc quan về triển vọng tăng trưởng ở New Zealand”, Ben Udy - một nhà kinh tế của Capital econom ở Singapore cho biết. Udy đã dự đoán chính xác là RBNZ sẽ giữ nguyên lãi suất trong ngày hôm nay, tuy nhiên ông hy vọng RBNZ sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần nữa vào năm tới xuống còn 0,5%.

Đồng đôla New Zealand bật tăng khá mạnh từ mức 63,65 UScent lên 64,09 UScent sau quyết định đầy bất ngờ này của RBNZ. Lãi suất hoán đổi hai năm tăng 21 điểm cơ bản lên 1,25% và lãi suất trái phiếu 10 năm tăng 17,5 điểm lên 1,54%.

Dự báo mới về lãi suất tiếp tục báo hiệu một số cơ hội cắt giảm lãi suất khác vào năm tới, theo tuyên bố chính sách của RBNZ. Cụ thể, lãi suất trung bình giảm xuống mức 0,90% trong quý đầu tiên của năm 2020.

RBNZ là NHTW đầu tiên trong thế giới phát triển bắt đầu một chu kỳ nới lỏng mới khi cắt giảm lãi suất lần đầu tiên vào tháng Năm. Tuy nhiên nó đã tạm dừng chu kỳ nới lỏng sau các động thái tương tự mới đây của Fed và NHTW Úc, những động thái gợi ý rằng các nhà hoạch định chính sách trên khắp thế giới đang muốn đánh giá tác động của việc cắt giảm trước khi nới lỏng thêm.

Kinh tế của New Zealand đã chậm lại, chỉ tăng trưởng với tốc độ hàng năm ở mức 2,1% trong quý hai từ mức 3,2% của một năm trước đó. Niềm tin kinh doanh bị giảm sút đã kéo làm giảm hoạt động thuê mướn lao động và đầu tư, trong khi lo ngại về tác động của cuộc chiến thương mại giữa Mỹ - Trung đối với tăng trưởng toàn cầu đã làm tổn thương sản xuất và xuất khẩu của New Zealand.

Đó chính là lý do khiến RBNZ cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế của nước này khi dự kiến tổng sản phẩm quốc nội chỉ tăng 2,2% trong năm tính đến tháng 3/2020 so với 2,7% của dự báo trước đó. Tuy nhiên tăng trưởng nhích nhẹ lên 2,7% vào đầu năm 2021.

“Chúng tôi cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ vẫn yếu trong phần còn lại của năm dương lịch”, RBNZ nói. Tuy nhiên, “hoạt động kinh tế trong nước được dự kiến sẽ tăng trong năm 2020, được hỗ trợ bởi lãi suất thấp, tăng trưởng tiền lương cao hơn và động thái tăng chi tiêu và đầu tư của Chính phủ. Mức độ thấp của OCR đã chuyển sang kéo giảm lãi suất cho vay nói chung, hỗ trợ chi tiêu và đầu tư”.

Tuy nhiên RBNZ đã nâng dự báo ngắn hạn về lạm phát hàng năm, dự kiến sẽ đạt 2,1% vào quý đầu năm 2020 trước khi quay trở lại mức 1,7% vào đầu năm 2021. “Lãi suất sẽ cần duy trì ở mức thấp trong một thời gian dài để đảm bảo lạm phát đạt đến điểm giữa của phạm vi mục tiêu của chúng tôi”, RBNZ cho biết. “Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi sự phát triển kinh tế và vẫn sẵn sàng hành động nếu thấy cần thiết”.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 24.584 25.838 26.669 27.782 28016 220,20
BIDV 23.560 23.720 25.003 25.810 26.990 27.534 207,78 215,98
VietinBank 23.538 23.708 24.992 25.827 27.024 27.664 210,59 218,29
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.530 23.700 24.894 25,549 27.052 27.764 210,34 215,88
ACB 23.530 23.700 24.998 25.434 27.233 27.639 211,70 215,39
Sacombank 23.515 23.700 24.976 25.541 27.120 27.635 210,72 217,13
Techcombank 23.540 23.700 24.725 25.691 26.799 27.727 209,95 216,81
LienVietPostBank 23.530 23.710 24.908 25.563 27.092 27.687 210,51 218,88
DongA Bank 23.560 23.700 24.990 25.280 27.080 27.420 207,90 214,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
Vàng SJC 5c
47.100
47.920
Vàng nhẫn 9999
45.200
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.800
45.900