Ngân hàng trung ương Nhật Bản tạm dừng theo đuổi mục tiêu lạm phát

07:00 | 04/03/2020

BoJ trong cuộc họp điều hành CSTT diễn ra vào cuối tháng 2 vừa qua đã đưa ra tuyên bố tạm dừng theo đuổi mục tiêu lạm phát 2% mà tập trung vào mục tiêu duy trì đà phục hồi bền vững cho nền kinh tế.

Nhiều ngân hàng trung ương đã sẵn sàng phát hành tiền số
Các ngân hàng trung ương đang quan tâm đến tiền kỹ thuật số

Kinh tế Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn về tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2020. Các số liệu thống kê mới nhất cho thấy khu vực sản xuất sau khi phục hồi trở lại trong tháng 1 đã nhanh chóng quay trở lại tình trạng thu hẹp khi chỉ số PMI tổng hợp đã giảm mạnh xuống còn 47 điểm trong tháng 2, là mức thu hẹp mạnh nhất của lĩnh vực sản xuất trong nhiều năm qua. Diễn biến kém tích cực này đến từ cả hai khu vực chế biến chế tạo và dịch vụ khi chỉ số PMI khu vực dịch vụ đã giảm xuống ngưỡng thu hẹp 46,7 điểm trong tháng 2, trong khi PMI khu vực chế biến chế tạo cả 2 tháng đầu năm đều ở dưới mức 50 điểm.

Ảnh minh họa

Trong khi đó, hoạt động tiêu dùng nội địa cũng chưa có nhiều cải thiện khi tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa tháng 1 tiếp tục giảm 0,4% so với cùng kỳ, tháng giảm thứ 4 liên tiếp kể từ khi Nhật Bản tăng thuế tiêu dùng nội địa vào tháng 10 năm ngoái. Trên thực tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản đã giảm 6,3% trong quý IV năm ngoái do hoạt động tiêu dùng và đầu tư bị ảnh hưởng bởi việc chính phủ tăng thuế tiêu dùng.

Xuất khẩu cũng là một nhân tố chịu ảnh hưởng mạnh từ những biến động kinh tế địa chính trị trong những tháng đầu năm, đặc biệt từ dịch Covid-19. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu tháng 1 ước đạt 5,43 nghìn tỷ JPY, là tháng đạt giá trị xuất khẩu thấp nhất kể từ đầu năm 2017 và cũng là tháng thứ 14 liên tiếp xuất khẩu có sự sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ. 

Ngoài ra, các nhà phân tích cho rằng sự lan rộng của virus corona đang gây thiệt hại đến ngành sản xuất và dịch vụ du lịch. Điều này có thể làm suy yếu tốc độ tăng trưởng trong quý I/2020 và tiếp tục đẩy kinh tế Nhật Bản vào trạng thái suy thoái.

Hiện nay, tình hình đã trở nên tệ hơn khi việc tăng giá hàng hóa và dịch vụ, vốn được NHTW Nhật Bản (BoJ) coi là một dấu hiệu của sự cải thiện của nền kinh tế, nhưng giờ đang bị coi là nhân tố cản trở tiêu dùng trong nước vào thời điểm các áp lực toàn cầu đang gia tăng. Mặt khác, các doanh nghiệp đang tăng giá cả hàng hóa, dịch vụ và chuyển gánh nặng tăng giá nguyên liệu đầu vào và chi phí nhân công sang cho người tiêu dùng. Như vậy, việc cố gắng thực hiện mục tiêu lạm phát 2% giờ đây đang trở thành gánh nặng cho BoJ để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng.

Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền kinh tế trước nguy cơ suy thoái đang trở thành nhiệm vụ cấp bách hơn đối với BoJ, nhất là khi các rủi ro từ bên ngoài như cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và sự bùng phát của dịch Covid-19. BoJ trong cuộc họp điều hành CSTT diễn ra vào cuối tháng 2 vừa qua đã đưa ra tuyên bố tạm dừng theo đuổi mục tiêu lạm phát 2% mà tập trung vào mục tiêu duy trì đà phục hồi bền vững cho nền kinh tế.

Như vậy, sau nhiều năm cố gắng đưa nền kinh tế Nhật Bản thoát khỏi tình trạng thiểu phát bằng cách đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng về lạm phát, triển vọng hồi phục mong manh của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và dư địa cho việc thực hiện các công cụ chính sách đang ngày càng hạn hẹp đã khiến BoJ phải công khai thừa nhận rằng điều tốt nhất mà ngân hàng trung ương này có thể làm là duy trì tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích nghi ngờ rằng liệu chính phủ và ngân hàng trung ương Nhật Bản có biện pháp hiệu quả để chống lại cuộc suy thoái kinh tế hay không, sau khi các biện pháp nhằm duy trì tiêu dùng sau tăng thuế trước đó không phát huy hiệu quả.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.090 23.270 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.081 23..291 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.170
50.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.170
50.530
Vàng SJC 5c
50.170
50.550
Vàng nhẫn 9999
49.840
50.390
Vàng nữ trang 9999
49.540
50.290