Ngân hàng trung ương Trung Quốc giữ nguyên lãi suất

07:43 | 28/03/2022

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) vừa quyết định giữ nguyên lãi suất chuẩn được sử dụng trong cho vay doanh nghiệp và hộ gia đình. Tuy nhiên theo các nhà phân tích, nhiều khả năng cơ quan này sẽ tiếp tục triển khai thêm các biện pháp kích thích tiền tệ trong bối cảnh các rủi ro bên ngoài đang gia tăng áp lực đối với nền kinh tế Trung Quốc vốn đã chậm lại.

ngan hang trung uong trung quoc giu nguyen lai suat Kinh tế Trung Quốc đang trì trệ bởi dịch Covid
ngan hang trung uong trung quoc giu nguyen lai suat Ngân hàng trung ương Trung Quốc bơm thanh khoản vào thị trường
ngan hang trung uong trung quoc giu nguyen lai suat Cổ phiếu công nghệ Trung Quốc lao đao tại Mỹ

Theo đó, lãi suất cho vay cơ bản (LPR) 1 năm được giữ ở mức 3,70%; trong khi LPR 5 năm vẫn ở mức 4,60%. Hiện hầu hết các khoản vay mới và dư nợ ở Trung Quốc đều dựa trên LPR 1 năm. Trong khi lãi suất LPR 5 năm ảnh hưởng đến việc định giá các khoản thế chấp. LPR được thiết lập hàng tháng bởi 18 ngân hàng, những ngân hàng gửi báo cáo về lãi suất cho vay của họ dựa trên lãi suất cơ sở cho vay trung hạn (MLF) cũng được PBoC giữ ổn định trước đó.

Theo đó, ngày 16/3 PBoC cũng đã quyết định giữ nguyên lãi suất MLF trị giá 200 tỷ nhân dân tệ (31,44 tỷ USD) đối với một số tổ chức tài chính ở mức 2,85%. Động thái này được đưa ra ngay trước cuộc họp chính sách tháng 3 của Fed (cuộc họp mà Fed quyết định tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm). Các nhà phân tích thời điểm đó nhận định PBoC tránh điều chỉnh chính sách trước khi Fed đưa ra quyết định của mình.

ngan hang trung uong trung quoc giu nguyen lai suat
Ảnh minh họa

Thế nhưng ngay tại thời điểm đó giới chuyên môn cũng nhận định, nhiều khả năng PBoC sẽ tiếp tục nới lỏng chính sách để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nay khi Fed đã quyết định tăng lãi suất, kéo theo đó là nhiều NHTW lớn khác như NHTW Anh, song hiện thị trường vẫn kỳ vọng các nhà hoạch định chính sách tiền tệ Trung Quốc sẽ sớm tiếp tục nới lỏng tiền tệ để vực dậy nền kinh tế đang bị ảnh hưởng bởi diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 trong nước, trong khi tăng trưởng tín dụng yếu hơn và lĩnh vực bất động sản suy giảm, nay lại chịu thêm áp lực khi rủi ro toàn cầu gia tăng từ cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Win Thin - Trưởng bộ phận chiến lược tiền tệ toàn cầu của Brown Brothers Harriman cho biết, Trung Quốc sẽ cần nhiều biện pháp kích thích hơn nữa để đạt được mục tiêu tăng trưởng khoảng 5,5% trong năm nay. “Chúng tôi dự báo về một đợt cắt giảm lãi suất khác sẽ diễn ra vào đầu quý II”, ông nói trong một ghi chú.

Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc tuần trước đã thúc giục việc triển khai các chính sách thân thiện với thị trường để hỗ trợ nền kinh tế đang chậm lại. Ý kiến của ông đã củng cố kỳ vọng của thị trường về việc nới lỏng tiền tệ trong những tháng tới và nhiều người kỳ vọng PBoC sẽ cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) đối với các ngân hàng và các lãi suất chính sách khác.

“Chưa có tiền lệ hạ LPR mà không có RRR hoặc cắt giảm lãi suất chính sách”, các nhà phân tích của Citi cho biết. Tuy nhiên một số nhà phân tích cảnh báo, việc giảm lãi suất có thể thúc đẩy dòng vốn chảy ra ngoài khi các nền kinh tế lớn khác, bao gồm cả Mỹ, bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ. Sự phân hóa chính sách nới rộng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể làm giảm lợi thế lợi suất hiện tại của Trung Quốc so với Mỹ, khiến các nhà đầu tư đổ tiền vào nơi khác.

Hiện chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Trung Quốc và trái phiếu kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn đã giảm xuống còn khoảng 65 điểm cơ bản, mức hẹp nhất trong 3 năm.

Trước đó PBoC hôm 20/1 đã quyết định cắt giảm lãi suất cho vay chuẩn (LPR) kỳ hạn 1 năm 10 điểm cơ bản từ 3,80% xuống 3,70%. LPR kỳ hạn 5 năm cũng được giảm 5 điểm cơ bản xuống 4,60% từ 4,65%. Chỉ cách đó ít ngày, hôm 17/1, PBoC cũng đã cắt giảm lãi suất cho vay trung hạn 1 năm từ 2,95% xuống còn 2,85%; lãi suất repo ngược kỳ hạn 7 ngày cũng được giảm từ 2,2% về còn 2,1%. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020, PBoC tiến hành cắt giảm lãi suất.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750