Ngân hàng Việt vươn tầm khu vực

07:54 | 09/03/2020

TS. Võ Trí Thành cho rằng, bên cạnh quy mô vốn, các ngân hàng cần phải chú trọng nhiều hơn đáp ứng chuẩn mực quốc tế về quản trị...

Triển vọng gọi vốn ngoại của ngân hàng Việt
Ngân hàng Việt nỗ lực khẳng định thương hiệu
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc: Các ngân hàng Việt cần có khát vọng vươn lên

Khó nhưng vẫn phải làm

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 định hướng phát triển đến năm 2030 và mới đây nhất là Đề án “Kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ đến năm 2020, định hướng đến năm 2025” đặt mục tiêu đến năm 2020 có ít nhất từ 1 đến 2 NHTM nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á và đến năm 2025 ít nhất 2 - 3 NHTM lọt vào top này.

Liệu mục tiêu này có khả thi? Lãnh đạo một NHTMCP thừa nhận dù vươn ra sân chơi lớn của khu vực và xa hơn là thế giới luôn là đích đến của tất cả các ngân hàng. Nhưng đây là một mục tiêu quá sức đối với ngân hàng cỡ vừa như ngân hàng này trong 5-7 năm tới, thậm chí cả chục năm tới. Mục tiêu trên có thể khả thi đối với các ngân hàng quốc doanh. Tuy nhiên, ngay cả với các ngân hàng quốc doanh thì theo đánh giá của TS. Nguyễn Trí Hiếu, mục tiêu lọt top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực cũng không hề dễ dàng khi mà quy mô tài sản của các ngân hàng này vẫn còn khá khiêm tốn so với khu vực.

BIDV đang là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống

Quả vậy hiện các ngân hàng quốc doanh vẫn đang nắm giữ những vị trí hàng đầu về quy mô tổng tài sản trong hệ thống các ngân hàng Việt. Đến thời điểm này cả 4 NHTM Nhà nước là BIDV, Agribank, Vietcombank, VietinBank đều đã vượt 1 triệu tỷ đồng. Tổng tài sản của 4 ngân hàng này đạt trên 5 triệu tỷ đồng, tăng gần 4 lần trong vòng 10 năm và chiếm đến gần 45% tổng tài sản của cả hệ thống TCTD. Ngoài 4 NHTM quốc doanh, có 6 ngân hàng khác cũng đã có tài sản đạt trên 10 tỷ USD lần lượt là Sacombank, MBBank, Techcombank, ACB, SHB và VPBank.

Theo công bố mới nhất của The Asian Banker, có 19 NHTM của Việt Nam lọt vào danh sách 500 ngân hàng mạnh nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2019, tăng thêm 4 ngân hàng so với năm trước.  Trong đó, ngân hàng lớn nhất Việt Nam là BIDV đứng ở vị trí 138, tăng 9 bậc so với xếp hạng trước đó. Agribank cũng có bước cải thiện vươn lên hạng 142 từ vị trí 156 của năm trước. Vietcombank tăng 3 bậc lên vị trí 166…

Mặc dù xếp hạng 500 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Asian Banker dựa trên số liệu vào cuối năm 2018, trong khi như đã nói ở trên, tổng tài sản của các nhà băng đã có bước tăng trưởng khá mạnh trong năm vừa qua. Chẳng hạn như BIDV, sau khi bán 15% cổ phần cho KEB Hana Bank của Hàn Quốc, tổng tài sản của BIDV tăng tới gần 13,5% trong năm ngoái lên hơn 1,49 triệu tỷ đồng (tương đương hơn 62 tỷ USD). Hay như Vietcombank cũng ghi nhận tổng tài sản tăng gần 14% lên 1,22 triệu tỷ đồng… Vì thế, có lẽ vị trí của các ngân hàng này trong bảng xếp hạng 500 ngân hàng lớn nhất khu vực cũng sẽ thay đổi.

Tuy nhiên, để lọt vào top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực về tổng tài sản vẫn còn một chặng đường khá xa khi mà ngân hàng đang đứng ở vị trí 100 trong bảng xếp hạng này có tổng tài sản lên tới 83,43 tỷ USD.

Không phủ nhận, đây là mục tiêu khó khăn đối với các ngân hàng Việt Nam, nhưng ông Phạm Xuân Hòe - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược NHNN nhấn mạnh, đó là một đòi hỏi từ thực tế nếu các ngân hàng Việt Nam muốn có một vị trí nhất định trên bản đồ ngân hàng trong khu vực. Phân tích thêm cho nhận định cần thiết có ngân hàng khu vực, ông Hòe cho biết, ngân hàng là một trong lĩnh vực chủ đạo của mỗi quốc gia; trong khi Việt Nam là một nền kinh tế lớn trong khu vực ASEAN nên cần phải có ít nhất 1-2 ngân hàng tầm cỡ có tiếng nói trong khu vực.

Lớn nhưng không bằng mạnh

Đồng tình như vậy, nhiều chuyên gia cũng cho rằng, khi hội nhập quốc tế, các ngân hàng buộc phải theo chuẩn mực chung của thế giới như về quản trị rủi ro, mở rộng thị phần, mạng lưới hoạt động tại nước ngoài. Chẳng hạn, ngân hàng muốn mở chi nhánh ở nước ngoài, tiêu chuẩn đầu tiên của NHTW các nước xét duyệt là vốn tự có, tổng tài sản của ngân hàng đó.

Một yếu tố quan trọng mà các ngân hàng cần phải quan tâm nữa là năng lực cạnh tranh. Muốn cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng phải có quy mô vốn, chất lượng tài sản, đáp ứng chuẩn mực quốc tế như Basel II, xa hơn là Basel III. Chưa hết, các ngân hàng cần phải chuẩn bị gối đệm vững chắc để có thể đối phó với những rủi ro tín dụng, vận hành, thị trường, và cả dự trữ để dự phòng cho những rủi ro không thể lường trước được, chẳng hạn như trường hợp dịch bệnh Covid-19.

“Tất cả câu chuyện trên đòi hỏi  phải có vốn dự phòng đảm bảo thanh khoản, chất lượng tài sản của ngân hàng ngày càng cao hơn, khắt khe hơn nếu muốn giữ vị thế, tiếng nói nhất định. Các ngân hàng Việt Nam muốn nâng cao năng lực cạnh tranh không còn con đường nào khác phải vươn lên”, ThS. Phạm Xuân Hòe nhấn mạnh. 

Tin vui cho các ngân hàng là Chính phủ và các bộ, ngành đã ủng hộ chủ trương tăng vốn cho 4 ngân hàng lớn. VietinBank sẽ được giữ lại toàn bộ lợi nhuận năm 2017, 2018. Các ngân hàng khác cũng có thể cấp bổ sung vốn điều lệ theo cách thức tương tự. Thực tế thời gian qua, các ngân hàng đang nỗ lực và thể hiện rõ tham vọng vươn tầm khu vực của mình.

Đánh giá mục tiêu có ít nhất từ 1 - 2 NHTM nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á là hoàn toàn có tính khả thi, nhưng theo quan điểm của TS. Cấn Văn Lực ngoài định hướng tăng về mặt quy mô, các ngân hàng cần phải quan tâm tới chất lượng và hiệu quả để đảm bảo sự phát triển bền vững. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến nguồn nhân lực và nền tảng công nghệ nhất là trong bối cảnh kinh tế số, ngân hàng số phát triển mạnh mẽ điều này có ý nghĩa rất quan trọng.

TS. Võ Trí Thành cũng cho rằng, bên cạnh quy mô vốn, các ngân hàng cần phải chú trọng nhiều hơn đáp ứng chuẩn mực quốc tế về quản trị. Các ngân hàng Việt Nam tuy có bước tiến trong đáp ứng chuẩn mực thông lệ quốc tế Base II nhưng vẫn chưa thực hiện đầy đủ cả 3 trụ cột. Trong khi ở khu vực có những ngân hàng đã đáp ứng chuẩn Basel III cho thấy mức độ đáp ứng của các ngân hàng Việt vẫn còn chậm.

Vấn đề nữa vị chuyên gia trên đưa ra là việc vươn ra sân chơi quốc tế không phụ thuộc vào quy mô tài sản mà còn năng lực cạnh tranh.“Các ngân hàng quy mô lớn sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi bước ra sân chơi lớn, song lớn cũng không đồng nghĩa với mạnh”, vị này nhìn nhận và dẫn chứng trường hợp Vietcombank mặc dù chỉ đứng thứ 166 trong Bảng xếp hạng top 500 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản, nhưng Vietcombank được xếp ở vị trí thứ 17 trong số các ngân hàng mạnh nhất khu vực. Hay NHTMCP như Techcombank tuy đứng ở vị trí 373 trong top 500 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản, nhưng xếp thứ 160 ngân hàng mạnh nhất trong khu vực.

Hà Thành

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530