Ngành điều đối mặt với thách thức

07:00 | 23/03/2020

Không riêng ở khu vực miền Đồng Nam bộ, tại Tây Nguyên, do diễn biến thời tiết bất thường, cây điều trên địa bàn Gia Lai đạt năng suất thấp. Cùng đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động xuất khẩu đình trệ dẫn đến mất giá. Trước thách thức này, hàng trăm nông hộ trồng điều tại địa phương này đang như ngồi trên lửa.

Thị trường xuất khẩu ảm đạm

Những tháng qua, do ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19, các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề. Trong đó, các mặt hàng nông sản đang đứng trước áp lực rất lớn vì rớt giá, sản lượng xuất khẩu giảm mạnh. Đơn cử với ngành điều, giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2020 sụt giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp đang tồn kho ở mức báo động.

Bình Phước là một trong những địa phương có diện tích trồng điều lớn nhất cả nước. Song chính quyền địa phương và nông dân hiện không khỏi lo lắng khi giá hạt điều xuất khẩu liên tục lao dốc. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, năm nay giá điều nhân xuống thấp, nhu cầu thị trường cũng thấp và liên tục biến động. Vào thời điểm này, nông dân Campuchia (giáp biên giới tỉnh Bình Phước) cũng đang bước vào thu hoạch điều. Đặc biệt, Trung Quốc là thị trường chính của xuất khẩu hạt điều Việt, lại đang chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19.

Ngành điều đang đối mặt với tác động kép từ dịch bệnh Covid-19 và mất mùa do sâu bệnh

Còn theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng điều nhân xuất khẩu trong tháng 2/2020 khoảng 21.000 tấn, với giá trị 149 triệu USD. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2020, khối lượng xuất khẩu hạt điều của Việt Nam chỉ là 46.000 tấn và 322 triệu USD, giảm 4% về khối lượng và giảm hơn 17% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

Hiệp hội Hạt điều Việt Nam (Vinacas) phân tích, dịch Covid-19 đã khiến xuất khẩu điều sang thị trường Trung Quốc bị đình trệ, dẫn tới tình trạng tồn kho cao tại các DN. Điều này phù hợp với thực tế là DN xuất khẩu điều Việt Nam hiện phụ thuộc rất nhiều vào thị trường Trung Quốc. Cùng với đó, những thị trường nhập khẩu hạt điều lớn khác của Việt Nam như Mỹ, Hà Lan, Singapore, Đức, Anh, Úc, Canada… cũng đều bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Tất cả đã khiến hoạt động xuất khẩu hạt điều của Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo, nếu dịch bệnh Covid-19 còn diễn biến phức tạp và kéo dài, các DN sản xuất hạt điều cần thận trọng trong việc ký kết hợp đồng mua điều thô nếu chưa có hợp đồng đầu ra hay chưa cân đối được giá bán và chi phí.

Cùng với đó, các chuyên gia cũng khuyến cáo, DN sản xuất và xuất khẩu hạt điều cần cẩn trọng trong các giao dịch tại thời điểm này. Không vội mua điều thô nếu chưa có hợp đồng đầu ra. Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu ảm đạm như hiện nay, DN cần phân tích kỹ thị trường và các tác động khác từ dịch bệnh Covid-19 trước khi quyết định ký hợp đồng mua hoặc bán để đảm bảo hiệu quả kinh doanh.

Nông hộ gặp khó

Trong tình hình chung, người trồng điều trong nước cũng đang gặp nhiều khó khăn do giá điều giảm thấp. Vùng trồng điều của Việt Nam chủ yếu tập khu ở khu vực Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Thời gian qua, do biến đổi khí hậu, cây điều của người nông dân bị ảnh hưởng bởi khô hạn và sâu bệnh phá hại. Đặc biệt là sâu đục thân và bọ trĩ là 2 loại sâu chính gây hại cho cây điều. 

Bình Phước được coi là vựa điều của Việt Nam, với diện tích trồng lên đến 134.000ha, tập trung ở các huyện Bù Đăng, Đồng Phú, Bù Gia Mập; với 75.000 hộ, sống nhờ cây điều. Tuy nhiên, hiện đang vào vụ thu hoạch, nhưng giá điều trên thị trường lại liên tục giảm, nhiều hộ nông dân trồng điều đang đứng ngồi không yên.

Thực tế tại các tỉnh Đông Nam bộ và khu vực Tây Nguyên, giá hạt điều tươi đang được thương lái thu mua với giá dao động khoảng 27- 28 đồng/kg. Với giá này, người nông dân sẽ bị “bốc hơi” mất đến 10 - 12 đồng/kg so với cùng thời điểm năm ngoái.

Theo các DN xuất khẩu hạt điều, giá giảm mạnh ở thời điểm này là do thị trường xuất khẩu hạt điều thành phẩm gặp khó khăn. DN sản xuất, chế biến điều đang đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ hạt điều ở thị trường trong nước để giảm bớt lượng hàng tồn kho, quay vòng vốn.

Không riêng ở khu vực miền Đồng Nam bộ, tại Tây Nguyên, do diễn biến thời tiết bất thường, cây điều trên địa bàn Gia Lai đạt năng suất thấp. Cùng đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động xuất khẩu đình trệ dẫn đến mất giá. Trước thách thức này, hàng trăm nông hộ trồng điều tại địa phương này đang như ngồi trên lửa.

Vào thời điểm hiện nay, các DN sản xuất cần đẩy mạnh việc liên kết với các hệ thống siêu thị để tiêu thụ, bởi thị trường trong nước vấn rất tiềm năng. Điều quan trọng là cần nâng cao chất lượng, mẫu mã, bao bì và truyền thông cho sản phẩm đến tay người tiêu dùng…

Giao Long

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.050
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.050
48.050
Vàng SJC 5c
47.050
48.070
Vàng nhẫn 9999
44.450
45.550
Vàng nữ trang 9999
44.150
45.350