Ngành gỗ hướng đến 12,5 tỷ USD xuất khẩu

09:51 | 03/02/2020

Năm 2020, doanh nghiệp ngành gỗ đặt mục tiêu xuất khẩu 12,5 tỷ USD, nếu tận dụng tốt cơ hội từ thị trường

Để hóa giải những nguy cơ trong ngành gỗ
Giảm thiểu rủi ro để phát triển ngành gỗ bền vững
Ngành gỗ trước vận hội mới

Theo ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), năm 2019 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhờ tận dụng tốt cơ hội từ các thị trường xuất khẩu chính, đạt kim ngạch cả năm 11 tỷ USD. Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam xếp thứ 2 châu Á và thứ 5 thế giới về xuất khẩu gỗ và sản phẩm đồ gỗ. Có đến 140 quốc gia, vùng lãnh thổ đang nhập khẩu đồ gỗ Việt Nam, trong đó các thị trường chính cũng là những thị trường lớn nhất thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, với kim ngạch trên 1 tỷ USD/năm/thị trường, chiếm đến 86,5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Còn lại những thị đang tăng nhập khẩu theo từng năm là Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Đức, Hà Lan… Ngoài ra, ngành gỗ Việt còn tận dụng được các cơ hội xuất khẩu gỗ nhiệt đới tốt hơn các quốc gia cạnh trang như Indonesia và Malaysia do căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ.

Năm 2020, doanh nghiệp ngành gỗ đặt mục tiêu xuất khẩu 12,5 tỷ USD, nếu tận dụng tốt cơ hội từ thị trường

Sự bứt phá về tăng trưởng xuất khẩu trong năm qua đã góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành gỗ. Cụ thể, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực chế biến gỗ Việt Nam đã tăng nhanh. Trong đó, nhà đầu tư đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư lớn nhất (năm 2019 có trên 100 dự án đầu tư mới, với tổng vốn cấp mới và tăng vốn là 700 triệu USD, cao gấp 2 lần những năm trước đó). Thời gian qua, các nhà đầu tư đến từ Hồng Kông (Trung Quốc), Mỹ, Anh… đã tăng gấp 2, 3 lần vốn đầu tư vào ngành chế biến gỗ. Ngoài ra, còn là những thị trường đối tác từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) như Nhật Bản và Canada là các thị trường thành viên trong CPTPP. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang 2 thị trường này, ngoài việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu từ năm 2019, đến nay Việt Nam còn tận dụng được hiệu quả các cam kết từ CPTPP làm tăng khả năng cạnh tranh của gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam so với các nguồn cung khác ngoài CPTPP, giúp cho gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam mở rộng tại đây. Châu Âu (EU) cũng là một trong những thị trường xuất khẩu chính đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực, sản phẩm gỗ của Việt Nam tiêu thụ tốt hơn, nhờ việc cắt giảm hàng rào thuế quan theo lộ trình, cạnh tranh hơn so với hàng hóa từ các quốc gia khác không có FTA với EU.

Ông Lê Hồng Thắng - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Chế biến gỗ Đức Thành (một trong những doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ đến trên 50 thị trường nước ngoài) cho biết, đồ gỗ nội ngoại thất, gỗ gia dụng, đồ chơi gỗ cho trẻ em của Đức Thành nói riêng và doanh nghiệp Việt nói chung hiện đã đạt các tiêu chuẩn quốc tế khi vào những thị trường có quy định kỹ thuật khắt khe (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản). Các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ còn không ngừng đầu tư mạnh vào máy móc, công nghệ (sản xuất, quản lý doanh nghiệp) hiện đại, có bộ phận nghiên cứu thiết kế mẫu mã sản phẩm riêng (trước đây phần lớn sản xuất gia công, theo mẫu mã của người mua), gia tăng giá trị sản phẩm và tính cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Sự chủ động sản xuất và ổn định thị trường xuất khẩu đã đưa doanh nghiệp chế biến gỗ đạt doanh thu ổn định và phát triển tốt theo từng năm. Cụ thể tại Đức Thành, doanh thu hàng năm của công ty tăng trưởng liên tục qua nhiều năm, đến nay doanh thu đã đạt ngưỡng 15 triệu USD/năm.

Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh nhận định, từ 2020 nhu cầu nhóm sản phẩm đồ gỗ nội thất gia đình và nội thất văn phòng từ các thị trường lớn như Mỹ, EU còn tăng tốt, do lợi thế về thuế quan từ các FTA. Đồng thời căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc chưa dứt điểm cũng tạo cơ hội để đồ nội thất văn phòng của Việt Nam khai thác tốt hơn nữa thị trường Mỹ. Ở thị trường toàn cầu, từ 2020 được dự báo chi tiêu xây dựng văn phòng sẽ tăng mạnh, góp phần thúc đẩy thị trường đồ nội thất văn phòng tăng trưởng, đây chính là dư địa để doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam tận dụng trong thời gian tới.

Thanh Trà

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.340 25.268 26.428 30.189 30.833 207,26 216,78
BIDV 23.200 23.340 25.610 26.388 30.325 30.925 209,46 216,52
VietinBank 23.193 23.343 25.551 26.386 30.229 30.869 211,38 217,38
Agribank 23.180 23.290 25.504 25.919 30.261 30.779 211,43 215,46
Eximbank 23.200 23.320 25.565 25.930 30.404 30.837 212,64 215,67
ACB 23.200 23.320 25.585 25.937 30.464 30.806 212,72 215,65
Sacombank 23.175 23.337 25.593 26.048 30.462 30.867 212,00 216,57
Techcombank 23.193 23.333 25.337 26.296 30.042 30.984 211,20 217,98
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.467 25.871 29.382 30.858 211,88 216,09
DongA Bank 23.220 23.320 25.590 25.920 29.380 30.800 209,30 215,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.050
44.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.050
44.400
Vàng SJC 5c
44.050
44.420
Vàng nhẫn 9999
44.050
44.550
Vàng nữ trang 9999
43.600
44.400