Ngành Ngân hàng góp phần quan trọng vào phát triển Đà Nẵng

19:25 | 17/01/2020

Để góp phần vào thành công chung của Đà Nẵng, ngành Ngân hàng thành phố triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHNN về tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2019, về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu...

Bám sát mục tiêu phát triển

Ngày 17/1/2020, NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động ngành Ngân hàng năm 2019 và triển khai nhiệm vụ 2020.

Trong năm qua, Đà Nẵng đẩy mạnh thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, Nghị quyết số 43-NQ/TW về xây dựng và phát triển Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Bên cạnh thuận lợi, tình hình thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen, song với sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, UBND thành phố, kinh tế - xã hội và sản xuất kinh doanh của địa phương vẫn phát triển ổn định. Trong đó, có sự đóng góp rất lớn của ngành Ngân hàng Đà Nẵng; đảm bảo đủ vốn cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh.

nganh ngan hang gop phan quan trong vao phat trien da nang
Đồng chí Trần Văn Miên và đồng chí Võ Minh trao Giấy khen cho các TCTD có thành tích xuất sắc trong năm 2019

Năm 2019, tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP) tăng khoảng 6,47% so với năm 2018. Tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 95,7 triệu đồng/người/năm, tương đương 4.095 USD (tăng 4,37% so với năm 2018). Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khoảng 7,65%.

Trong đó, doanh thu du lịch lưu trú và lữ hành đạt 9.781 tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm 2018; doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 58.379 tỷ đồng, tăng 15,5%; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa khoảng 1.658,6 triệu USD, tăng 3,9%; kim ngạch nhập khẩu đạt 1.365 triệu USD; khối lượng hàng hóa qua cảng đạt 9,2 triệu tấn, tăng 6%; hoạt động thông tin - truyền thông phát triển khá, doanh thu toàn ngành đạt 13.834 tỷ đồng, tăng 8,1%.

Trong khi đó, chỉ số CPI bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 2,56% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,06%. Giá trị gia tăng khu vực nông, lâm, nghiệp – thủy sản tăng 1,2%. Đến cuối năm 2019, Đà Nẵng thu hút được 8.829,65 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước và 668,106 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn khoảng 40.010 tỷ đồng, tăng 3,6% so với năm 2018.

Để góp phần vào thành công chung của Đà Nẵng, theo ông Võ Minh, Giám đốc NHNN chi nhánh Đà Nẵng, ngành Ngân hàng thành phố triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHNN về tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2019, về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu.

Đồng thời, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước của địa phương trong năm năm 2019. Qua đó, ngành Ngân hàng Đà Nẵng đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội thành phố trong năm 2019.

Đến cuối năm 2019, trên địa bàn có 59 chi nhánh TCTD, 248 phòng giao dịch với sự đa dạng về loại hình hoạt động và hình thức pháp lý. Các đơn vị này được phân bố đều khắp ở các quận, huyện, tạo thuận lợi trong giao dịch của người dân và DN. Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn khoảng 131.500 tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2018. Trong đó, tiền gửi từ dân cư khoảng 88.000 tỷ đồng, chiếm 66,92%, tăng 2,53%; tiền gửi từ tổ chức kinh tế khoảng 43.500 tỷ đồng chiếm 33,08%, tăng 9,04%. Tổng dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn khoảng 175.500 tỷ đồng, tăng 16,99% so với cuối năm 2018. Trong đó, chủ yếu cho vay bằng VND, chiếm tỷ lệ 97,55% trong tổng dư nợ.

nganh ngan hang gop phan quan trong vao phat trien da nang
Đồng chí Trần Văn Miên và đồng chí Võ Minh trao Quyết định bổ nhiệm chức danh Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng cho đồng chí Tạ Hồ Nam

Chính quyền cần gỡ khó cho ngân hàng

Ông Minh cho rằng, nhìn chung, trên cơ sở định hướng tăng trưởng tín dụng của NHTW, NHNN chi nhánh Đà Nẵng chỉ đạo các TCTD trên địa bàn triển khai tích cực các giải pháp nhằm hướng dòng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo mục tiêu mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả. Dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản chỉ chiếm tỷ lệ 11,97%, dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán chiếm tỷ lệ 0,06%, dư nợ cho vay phục vụ nhu cầu đời sống chiếm tỷ lệ 29,06% trên tổng dư nợ.

Song song với hoạt động huy động vốn và tăng trưởng tín dụng, các TCTD đã tập trung xử lý nợ xấu. Hiện nợ quá hạn của các TCTD khoảng 2.572 tỷ đồng, chiếm 1,49% trên tổng dư nợ, nợ xấu khoảng 1.905 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,10% trên tổng dư nợ, giảm 800 tỷ đồng so với dư nợ xấu năm 2018.

Lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trên địa bàn tiếp tục phát triển gắn liền với quá trình đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại. Qua đó, cho phép tạo lập nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Với việc tiến hành triển khai đề án Nâng cao nhận thức và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn Đà Nẵng được UBND TP. Đà Nẵng phê duyệt góp phần tuyên truyền, nâng cao kiến thức thanh toán, đẩy mạnh thanh toán các dịch vụ công qua ngân hàng. Trong đó, các dịch vụ ngân hàng điện tử như internet banking, mobile banking và dịch vụ thẻ duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển thu hút khách hàng sử dụng ngày càng tăng.

Tại hội nghị có nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động ngân hàng trên địa bàn cần tiếp tục phát triển chiều sâu, tập trung phát triển dịch vụ sản phẩm ngân hàng để phục vụ du lịch. Tập trung xử lý nợ xấu để nâng cao chất lượng tín dụng. Với địa bàn nhỏ nhưng có nhiều TCTD, sự cạch tranh rất lớn, do đó cần có sự cạnh tranh lành mạnh.

Liên quan đến nợ xấu phát sinh từ các dự án bất động sản tại các vụ án và 2 nhà máy thép DaNa - Úc và DaNa - Ý, ông Đoàn Phúc, Phó giám đốc Agribank Đà Nẵng cho rằng, các dự án và 2 nhà máy này là nguyên nhân khiến nợ xấu của Đà Nẵng tăng lên và đến hiện tại chưa có hướng giải quyết dứt điểm. Đây là khó khăn và thách thức không riềng Agribank Đà Nẵng mà là một số TCTD trên địa bàn. Riêng Agribank Đà Nẵng đang trích lập rủi ro khoảng 200 tỷ đồng, chỉ vì 2 nhà mày thép bị thành phố yêu cầu ngừng sản xuất...

Trước thực tế này, ông Phúc đề nghị, UBND thành phố và NHNN sớm có những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho về pháp lý đối với các dự án bất động sản. Về 2 nhà máy thép, UBND thành phố cần có sự hỗ trợ để DN tái sản xuất, có nguồn thu để trả nợ ngân hàng.

Đối với những vấn đề liên quan đến nợ xấu tại các dự án bất động sản và 2 nhà máy thép, ông Trần Văn Miên, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cho rằng, chính quyền thành phố cũng đang chờ các vụ án đưa ra xét xử và có bản án. Khi đó, chính quyền thành phố sẽ nhanh chóng thực hiện theo phán quyết của tòa để hỗ trợ DN, hỗ trợ ngân hàng. Bởi các vụ việc này đa khởi kiện ra tòa, do đó, khi có bản án, chính quyền thành phố sẽ hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho DN và ngân hàng.

Phát biểu tại hội nghị, ông Miên đánh giá cao những đóng góp của ngành Ngân hàng, góp phần vào thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Đà Nẵng đề ra trong năm 2019.

Thời gian tới, ông Miên yêu cầu ngành Ngân hàng Đà Nẵng cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Đặc biệt, phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng để phục vụ phát triển hoạt động du lịch. Đây là ngành mũi nhọn của địa phương. Việc đặt các điểm thanh toán như máy ATM, POS... phải theo quy hoạch, phân bố đều, không nên tập trung một số điểm, địa bàn...  

Cùng với đó, các ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi để người dân và DN tiếp cận vốn vay, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ cao, công nghệ phụ trợ, nông nghiệp nông thôn, đời sống tiêu dùng. Tạo điều kiện cho người dân, DN có đủ vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, hạn chế vấn nạn tín dụng đen, nâng cao đời sống người dân thành phố. Đồng thời, mở rộng mang lưới ngân hàng đến các khu dân cư mới.

Đối với NHNN chi nhánh Đà Nẵng, năm 2020 cần tập trung vào công tác thanh tra, giám sát, đảm bảo hoạt động ngân hàng phát triển ổn định, nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD để phát huy hiệu quả đồng vốn.

Đặc biệt, ông Miên nhấn mạnh, cần tăng cường kiểm tra liên quan đến hoạt động thu đổi ngoại tệ, bán hàng bằng ngoại tệ cho du khách, giao dịch ngoại tệ, các tiệm cầm đồ... Qua đó, kịp thời xử lý các trường hợp làm trái quy định pháp luật đối với lĩnh vực ngoại tệ.

Thực hiện chỉ đạo của Thống đốc NHNN Việt Nam, tại hội nghị, NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng tổ chức công bố quyết định bổ nhiệm chức danh Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng.

Đồng chí Võ Minh, Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng công bố và trao Quyết định của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc bổ nhiệm ông Tạ Hồ Nam, Trưởng phòng Hành chính – Nhân sự, giữ chức vụ Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng, thời hạn bổ nhiệm là 5 năm kể từ ngày 1/1/2020.

Đồng chí Trần Văn Miên, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng trao hoa và chúc mừng đồng chí Tạ Hồ Nam; mong muốn trên cương vị mới, đồng chí Tạ Hồ Nam sẽ tiếp tục phát huy năng lực, trí tuệ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Bài và ảnh Công Thái

Nguồn:

Tags: ngân hàng

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.305 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.162 23.312 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.160 23.290 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.160 23.290 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.135 23.297 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.145 23.305 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.050
44.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.050
44.400
Vàng SJC 5c
44.050
44.420
Vàng nhẫn 9999
44.050
44.550
Vàng nữ trang 9999
43.600
44.400