Ngành Ngân hàng Nghệ An: Dấu ấn những chặng đường

09:23 | 05/05/2021

Giám đốc NHNN chi nhánh Nghệ An Nguyễn Thị Thu Thu chia sẻ: Với vai trò đầu mối triển khai chỉ đạo các cơ chế chính sách về tiền tệ của Chính phủ và NHNN Việt Nam trên địa bàn, chi nhánh đã chủ động chỉ đạo các TCTD khai thác tối đa nguồn vốn tại chỗ bằng nhiều hình thức huy động, và tập trung đẩy mạnh cho vay, chú trọng phục vụ các chương trình, dự án lớn, dự án trọng điểm của tỉnh, các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình, chính sách lớn của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hạn chế nạn tín dụng đen, hỗ trợ công tác xoá đói giảm nghèo ở địa phương.

Một thời để nhớ

Từ ngày thành lập đến năm 1954, Ngân hàng Nghệ An đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phát hành giấy bạc tài chính trên địa bàn, kết hợp chặt chẽ với tài chính và mậu dịch quốc doanh để quản lý phát hành và lưu thông tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ quản lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu cho ngân sách; đẩy mạnh công tác tín dụng phục vụ sản xuất dưới hình thức tín dụng gián tiếp, phát triển kinh tế tại địa phương. Thời kỳ khôi phục kinh tế, ngân hàng chuyển hướng từ cho vay gián tiếp qua cho vay trực tiếp nông dân cá thể để sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác. Bước vào thời kỳ cải tạo và phát triển kinh tế, ngân hàng tập trung vốn cho vay phục vụ sản xuất, phong trào đổi công, hợp tác hóa, cho vay nông dân nghèo góp vốn cổ phần, cho HTX nông nghiệp vay vốn công hữu hoá tư liệu sản xuất chủ yếu.

Trong khói lửa chiến tranh ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các cán bộ nhân viên Ngân hàng Nghệ An là những chiến sĩ kiên cường, bám trụ địa bàn, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ chi viện cho miền Nam cả sức người, sức của, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam.

nganh ngan hang nghe an dau an nhung chang duong
Ngành Ngân hàng Nghệ An được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất

Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Trong giai đoạn này, cũng như cả nước ở Nghệ Tĩnh chỉ có một Ngân hàng Nhà nước duy nhất với 28 chi nhánh cơ sở thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, vừa là ngân hàng phát hành, vừa là ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế...

Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, đã định hướng rõ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư, và cơ sở hạ tầng, hình thành môi trường hấp dẫn dòng vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo thuận lợi cho ngành Ngân hàng trên địa bàn thu hút thêm các loại hình TCTD thành lập, mở chi nhánh, phát huy tốt vai trò là trung gian trong luân chuyển vốn của mình.

Và cũng từ thời điểm này, Nghệ An đã có bước bứt phá mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, nhiều khu công nghiệp được hình thành và phát triển. Đời sống người dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3%. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân luôn đạt trên 6,5%; quy mô GRDP của tỉnh đứng thứ 10/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt khoảng 44 triệu đồng. Những kết quả trên có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân hàng Nghệ An và trên hết đó là sự minh chứng cho hiệu quả hoạt động ngân hàng trên địa bàn.

Một thời nỗ lực và phát triển

Giám đốc NHNN chi nhánh Nghệ An Nguyễn Thị Thu Thu chia sẻ: Với vai trò đầu mối triển khai chỉ đạo các cơ chế chính sách về tiền tệ của Chính phủ và NHNN Việt Nam trên địa bàn, chi nhánh đã chủ động chỉ đạo các TCTD khai thác tối đa nguồn vốn tại chỗ bằng nhiều hình thức huy động, và tập trung đẩy mạnh cho vay, chú trọng phục vụ các chương trình, dự án lớn, dự án trọng điểm của tỉnh, các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình, chính sách lớn của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hạn chế nạn tín dụng đen, hỗ trợ công tác xoá đói giảm nghèo ở địa phương.

Đặc biệt trong các giai đoạn xảy ra khủng hoảng kinh tế (năm 2009-2011) và dịch bệnh Covid-19 (năm 2019-2021), ngành Ngân hàng Nghệ An đã góp phần đắc lực và kịp thời cùng chính quyền địa phương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trên địa bàn vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đến nay tổng nguồn vốn huy động đạt trên 160 nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân trong 20 năm qua là 23,23%. Tổng dư nợ cho vay tín dụng đạt trên 226 nghìn tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng bình quân 25,04%. Bên cạnh việc mở rộng tín dụng, các ngân hàng không ngừng chú trọng và nâng cao chất lượng tín dụng, cùng với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát, tỷ lệ nợ xấu luôn được duy trì dưới 1% trong tổng dư nợ. Song song với việc phát triển các dịch vụ truyền thống, các TCTD trên địa bàn đã quan tâm phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, đặc biệt là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và xem đây là hướng phát triển phù hợp, có hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

Bên cạnh hoạt động chuyên môn, ngành Ngân hàng Nghệ An còn tích cực trong các hoạt động an sinh xã hội. Đến nay toàn Ngành đã đóng góp ủng hộ từ thiện hàng trăm tỷ đồng, nhận phụng dưỡng suốt đời 18 mẹ Việt Nam Anh hùng và xây dựng nhiều nhà tình nghĩa, trường học, trạm y tế, hỗ trợ xây dựng khu di tích lịch sử Truông Bồn... và rất nhiều hoạt động từ thiện khác.

Ghi nhận sự đóng góp đó, nhiều tập thể, cá nhân của Ngành đã được Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc, Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua và bằng khen. Đặc biệt, một vinh dự lớn đối với ngành Ngân hàng Nghệ An khi được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất.

Bài và ảnh Sông Lam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700