Ngành Ngân hàng Vĩnh Phúc: Điểm tựa cho phát triển kinh tế của tỉnh

10:39 | 28/04/2021

70 năm hình thành và phát triển, ngành Ngân hàng đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Đặc biệt với Vĩnh Phúc kể từ khi tái lập tỉnh (tháng 01/1997) đến nay, mạng lưới ngân hàng trên địa bàn đã có sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc cả về quy mô, số lượng các TCTD cũng như chất lượng hoạt động.

Cùng với sự chỉ đạo, giám sát thực thi chính sách tiền tệ và đồng hành cùng hệ thống các TCTD của NHNN Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc, ngành Ngân hàng trên địa bàn đã vượt qua khó khăn thách thức, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

*******

Đúng như cụm từ mà mọi người thường ví von về vai trò của ngành Ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng nếu chỉ nhìn vào con số tăng trưởng dư nợ, nguồn vốn nhiều lúc tưởng như “yên ả”, song thực tế lại luôn sôi động không ngừng. Ví như quý I/2021, qua những con số huy động và cho vay có thể thấy gam màu trầm, với nguồn vốn huy động trên địa bàn tỉnh đến thời điểm 28/2/2021 đạt 85.368 tỷ đồng, giảm so với tháng 1 và giảm so với cuối năm 2020. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến hết tháng 2/2021 cũng giảm nhiều so với cuối năm 2020, chủ yếu là do tiền gửi của các tổ chức kinh tế giảm (-7.299 tỷ đổng)… dẫu biết rằng ảnh hưởng của đại dịch Covid đối với nền kinh tế là rất nặng nề.

Hay như nhìn về con số tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đến 28/2/2021 đạt 87.707 tỷ đồng; giảm 0,32% so với tháng trước và giảm 0,4% so với cuối năm 2020. Song điều đó, không có nghĩa là dòng vốn tín dụng ngưng trệ. Bởi chỉ riêng đối tượng khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, ngành Ngân hàng tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai cho vay mới với lãi suất thấp hơn từ 0,5-2%/năm so với lãi suất khoản vay cũ được 11.858 khách hàng, dư nợ đạt 11.905 tỷ đồng, trong đó: Doanh nghiệp là 559 trường hợp, dư nợ đạt 5.025 tỷ đồng; Cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể là 11.299 trường hợp, dư nợ đạt 6.880 tỷ đồng. Miễn, giảm lãi vay cho 890 khách hàng, dư nợ đạt 2.123 tỷ đồng, trong đó: Doanh nghiệp 184 trường hợp, dư nợ đạt 1.530 tỷ đồng; Cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể 706 trường hợp, dư nợ đạt 593 tỷ đồng. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 202 khách hàng, dư nợ đạt 793 tỷ đồng, trong đó: Doanh nghiệp 60 khách hàng, dư nợ đạt 652 tỷ đồng; Cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể 142 trường hợp, dư nợ đạt 141 tỷ đồng.

Đây chỉ là một trong những nội hàm mà ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai để hỗ trợ phát triển kinh tế của tỉnh trong thời gian qua.

nganh ngan hang vinh phuc diem tua cho phat trien kinh te cua tinh
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc

Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc, ông Nguyễn Văn Tâm cho biết, không chỉ là cánh tay nối dài của Thống đốc trên địa bàn điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giá trị đồng tiền, NHNN tỉnh còn là cầu nối chỉ đạo giám sát cung - cầu tín dụng hài hòa đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng, cũng như đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế chung của cả nước. Nhất là trên một địa bàn tốc độ công nghiệp hóa nhanh, nhu cầu vốn lớn như Vĩnh Phúc, nhiều năm qua, Chi nhánh NHNN tỉnh đã tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới góp phần tăng tốc dòng chảy tín dụng và rút ngắn thời gian tiếp cận dịch vụ, giúp doanh nghiệp và người dân chớp cơ hội sản xuất kinh doanh kịp thời.

Và từ 5 chi nhánh (vào thời điểm tái lập tỉnh), đến nay tăng lên 28 chi nhánh Ngân hàng cấp I, 9 chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện, 31 Quỹ tín dụng nhân dân. Bên cạnh đó mạng lưới 97 phòng giao dịch của các TCTD, 136 điểm giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội, 230 máy ATM, 840 máy POS hoạt động rộng khắp tới từng xã, phường trong tỉnh, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn và cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích tới mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt người dân ở những vùng sâu, vùng xa ngày càng được tiếp cận dễ dàng hơn với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Đội ngũ cán bộ nhân viên dần được chuẩn hóa cả về năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp. Toàn hệ thống các ngân hàng, TCTD trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 3.000 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó 85% trở lên có trình độ đại học và trên đại học, 40% cán bộ có trình độ ngoại ngữ, 85% cán bộ sử dụng thành thạo hệ thống máy vi tính. Cán bộ ngân hàng từ vị trí lao động trực tiếp đến vị trí quản lý đều được quan tâm, tạo điều kiện tham gia các lớp trung cấp, cao cấp về lý luận chính trị; các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ… nên mặt bằng chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng vững vàng về chuyên môn, bản lĩnh về chính trị đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước đặt ra.

*******

Cùng với yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, NHNN Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo các TCTD thực hiện nghiêm túc các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đặc biệt trong công tác huy động vốn và đầu tư tín dụng cho nền kinh tế. Đồng thời triển khai có hiệu quả nhiều chính sách cụ thể, phù hợp để đảm bảo các nhu cầu vốn của thị trường luôn được đáp ứng kịp thời. Đặc biệt với một tỉnh nhu cầu vốn lớn hơn tích lũy, NHNN Chi nhánh tỉnh đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn tích cực, chủ động khai thác nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và tiền tiết kiệm dân cư đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tính đến tháng 4/2021, các TCTD đã huy động được 92.000 tỷ đồng, tăng 306 lần so với thời điểm tái lập tỉnh; cho vay đối với nền kinh tế đạt 91.500 tỷ đồng, tăng 193 lần so với thời điểm tái lập tỉnh.

Các chính sách tín dụng được điều chỉnh đúng hướng, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của tỉnh, như: Nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm thúc đẩy khu vực sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng và việc làm cho người lao động. Hiện nay, toàn hệ thống cho vay đối với doanh nghiệp đạt 41.600 tỷ đồng, với 3.100 doanh nghiệp đang vay vốn, chiếm 45,5% tổng dư nợ, trong đó cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt dư nợ 19.100 tỷ đồng. Dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 23.200 tỷ đồng, chiếm 25,3% tổng dư nợ; cho vay xây dựng nông thôn mới đạt 19.200 tỷ đồng, chiếm 21% tổng dư nợ; Dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 2.877 tỷ đồng, với hơn 98.000 khách hàng có dư nợ, đóng góp lớn vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội ở địa phương.

Các ngân hàng đã không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ; đa dạng hóa và đẩy mạnh sử dụng các phương tiện, gia tăng các dịch vụ thanh toán mới, hiện đại; tăng cường hoạt động đảm bảo an ninh, an toàn đối với hệ thống thanh toán; thực hiện giao dịch một cửa tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch, góp phần phục vụ kinh tế - xã hội tại địa phương. Đồng thời, chủ động tiếp cận các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trả lương cho cán bộ công nhân viên qua tài khoản ngân hàng; tăng cường tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người thu nhập thấp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tính đến cuối tháng 4/2021, có gần 500.000 tài khoản khách hàng mở tại các chi nhánh TCTD trên địa bàn; 5.000 đơn vị trả lương qua ngân hàng với 31.000 tài khoản.

*******

Những con số ấn tượng nói trên, khẳng định sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, người lao động cũng như vị thế quan trọng của toàn ngành Ngân hàng Vĩnh Phúc trong việc thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh, quốc phòng và trật tự xã hội, đưa Vĩnh Phúc tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa và hội nhập.

Nếu như năm 1997 cơ cấu kinh tế của tỉnh còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp chiếm 52%, dịch vụ 36%, công nghiệp chỉ chiếm 12% GRDP, thì đến năm 2020, cơ cấu kinh tế của một tỉnh công nghiệp ngày càng rõ nét, khi tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 61,95%, khu vực dịch vụ chiếm 29,82% và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ chiếm 8,23% trong cơ cấu GRDP giá hiện hành của tỉnh. GRDP bình quân đầu người đạt 104,7 triệu đồng/người/năm vào năm 2020.

“Lớp lớp những thành quả dồn tích lại nhiều năm qua là tiền đề và điểm tựa để hệ thống các ngân hàng, TCTD trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát huy vai trò huyết mạch vốn và thanh toán, cùng đồng hành, chia sẻ và hỗ trợ nền kinh tế của tỉnh với hướng đi và động lực mới để phát triển, vượt qua những khó khăn của dịch bệnh đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội”, Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Văn Tâm tin tưởng.

Hoa Hạ - Hoàng Duy

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.850 23.050 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.831 23.051 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.030 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.849 23.061 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.830 23.050 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.050
Vàng SJC 5c
56.450
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.000
Vàng nữ trang 9999
52.000
52.700