Ngành ô tô trong nước trước nguy cơ thu hẹp sản xuất

09:22 | 27/05/2020

Để phát triển ngành ôtô trong nước cũng như nâng tỷ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm, Bộ Công thương kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sớm thống nhất phương án sửa đổi quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô, trong đó giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho phần giá trị sản xuất được trong nước.

Mới đây, Công ty Honda Việt Nam đã có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc "phối hợp nắm bắt khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19", trong đó nhắc đến khả năng chuyển đổi mô hình kinh doanh của hãng xe này tại thị trường Việt Nam. Theo Honda Việt Nam, do thị trường suy giảm bởi tác động của dịch bệnh đã khiến sản lượng ôtô sản xuất trong nước giảm, gây khó khăn cho việc khôi phục sản xuất sau dịch bệnh, nên Honda Việt Nam cho biết hãng có khả năng sẽ chuyển đổi mô hình kinh doanh từ sản xuất sang nhập khẩu.

Được biết, đối với lĩnh vực ôtô, Honda chiếm 10,6% thị phần trong quý I năm nay với tổng doanh số đạt 5.290 chiếc, xếp sau Toyota và Thaco. Nhà sản xuất Nhật Bản hiện sở hữu danh mục sản phẩm gồm 7 mẫu xe là Brio, Jazz, City, Civic, HR-V, CR-V, Accord. Nhưng trong đó, duy nhất chỉ có mẫu City hiện vẫn đang được lắp ráp trong nước, đồng thời cũng là mẫu xe bán chạy nhất của hãng xe Nhật Bản này, những mẫu còn lại nhập khẩu từ nước ngoài.

Cần các hỗ trợ hiệu quả để phát triển ngành sản xuất ô tô trong nước

Theo Cục Đăng kiểm, trong 12 thương hiệu xe ô tô vừa nhập khẩu, vừa sản xuất tại Việt Nam, có tới 6 hãng xe đã thu hẹp sản xuất trong nước, tăng nhập khẩu. Trong đó, Toyota Việt Nam vào năm 2017, sản lượng xe sản xuất chiếm tới 74%, xe nhập khẩu chỉ chiếm 26% doanh số. Nhưng đến năm 2018, hãng tăng cường nhập khẩu thêm 3 mẫu vào Việt Nam, khiến cho cơ cấu xe sản xuất của Toyota giảm chỉ còn 64%, xe nhập khẩu tăng lên chiếm 36% doanh số. Tương tự, một số hãng xe khác như Ford, Nissan... trước đó chủ yếu là sản xuất, lắp ráp trong nước, nay đã dần chuyển hướng cung cấp ra thị trường nhiều mẫu xe nhập khẩu, thu hẹp quy mô hàng nội địa.

Một số chuyên gia nhận định, sở dĩ nhiều hãng xe tại Việt Nam đang có xu hướng dịch chuyển cơ cấu từ sản xuất, lắp ráp trong nước sang nhập khẩu là bởi một số lý do như chính sách thuế nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc từ các nước trong khối ASEAN thay đổi, giảm xuống 0%. Tuy nhiên, quan trọng hơn là do quy mô thị trường ô tô Việt Nam hiện vẫn còn đang rất nhỏ bé. Đơn cử như mẫu xe có sản lượng lớn nhất của hãng Toyota là Toyota Vios mới đạt 27.000 chiếc/năm, chỉ bằng 1/8 của Thái Lan. Bất lợi về sản lượng khiến cho ngành công nghiệp hỗ trợ gặp khó, dẫn đến những linh kiện sản xuất tại Việt Nam có giá cao hơn các nước trong khu vực từ 2-3 lần. Ngành này tại Việt Nam chưa phát triển, nên các hãng xe chưa tự chủ được các vật liệu cơ bản cũng như các linh, phụ kiện đầu vào cho ngành sản xuất ô tô trong nước.

Thực tế, thời gian gần đây, xe nhập khẩu tràn về nhiều đã gây khó khăn, áp lực cho sản xuất trong nước. Nhiều mẫu xe đã phải ngừng sản xuất lắp ráp trong nước để chuyển sang nhập khẩu. Những mẫu xe còn lại đều có sản lượng thấp, khiến đầu tư cho sản xuất linh kiện gặp bất lợi lớn. Vấn đề này kéo theo câu chuyện, nếu sản xuất linh kiện không phát triển thì công nghiệp ô tô Việt Nam khó thoát khỏi tình cảnh chỉ lắp ráp giản đơn. Số liệu từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) cho thấy, thị trường ô tô Việt Nam năm 2019 tăng trưởng 12%, trong khi xe nhập khẩu nguyên chiếc có mức tăng trưởng tới 82% so với năm 2018.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, lượng ôtô nhập khẩu ngày càng tăng khiến cho lợi thế xe sản xuất trong nước đang mất dần. Trong bối cảnh hiện nay, khi thuế nhập khẩu ô tô từ khu vực ASEAN về Việt Nam giảm xuống 0% và sắp tới là từ những quốc gia khác... thì việc đảm bảo xe sản xuất lắp ráp trong nước tăng sản lượng và cạnh tranh được với xe nhập khẩu không hề dễ dàng, cần có các chính sách hỗ trợ hiệu quả.

Chính vì vậy, để phát triển ngành ôtô trong nước cũng như nâng tỷ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm, Bộ Công thương kiến nghị Chính phủ, Quốc hội sớm thống nhất phương án sửa đổi quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đối với ôtô, trong đó giảm thuế TTĐB cho phần giá trị sản xuất được trong nước. Việc này sẽ khắc phục bất lợi về giá giữa xe sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu, cũng như khuyến khích tăng tỷ lệ giá trị nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất ôtô.

Ngoài ra, Bộ Công thương cũng đưa ra Dự thảo Nghị quyết các giải pháp thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ Việt Nam theo hướng giảm thuế với động cơ, hộp số về 0% đến năm 2025, mức tương đương cam kết tại Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Việc này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động sản xuất, lắp ráp ôtô tại Việt Nam. Đây cũng là các linh kiện có tỷ lệ giá trị cao trong cấu thành giá trị của ôtô nguyên chiếc, nên việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm này cũng góp phần giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành cho sản phẩm, hướng tới quyền lợi người tiêu dùng.

Nhật Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080