Ngành vật liệu giảm tốc, có nên lo?

10:45 | 26/11/2018

Diễn biến thị trường chứng khoán gần đây cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm cổ phiếu sau khi kết quả kinh doanh quý III của các DN được công bố. Trong số này, nhóm cổ phiếu được NĐT nhắc đến nhiều nhất là các mã thuộc họ vật liệu xây dựng (VLXD) khi liên tục trải qua chuỗi phiên giao dịch tồi tệ.

Xu hướng giảm ở các cổ phiếu thuộc ngành này, theo nhận định của NĐT có kinh nghiệm, có thể vẫn chưa kết thúc trong thời gian tới. Một phần lý do là vì kết quả kinh doanh (KQKD) của nhóm cổ phiếu ngành VLXD trong 9 tháng đầu năm gặp phải một số vấn đề lớn, kể cả những DN lớn như Coteccons (CTD), Hòa Bình (HBC) hay Vicostone (VCS) hoặc Nhựa Bình Minh (BMP).

Phần lớn doanh thu trong lĩnh vực này sẽ được ghi nhận trong quý IV

Khởi đầu năm 2018, nhiều người tin rằng ngành xây dựng và VLXD có thể tiếp nối sự thành công trong năm 2017. Tuy nhiên, các số liệu tài chính phát hành gần đây phần nào phản ánh kết quả chưa đáp ứng được kỳ vọng. Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm 2018, tổng doanh thu của ngành dù tăng nhẹ 6,7% lên 154 nghìn tỷ đồng, song lợi nhuận sau thuế (LNST) chỉ đạt 8 nghìn tỷ đồng, giảm mạnh 24,1% so với cùng kỳ 2017. Với kết quả này, ngành mới chỉ hoàn thành 67,3% kế hoạch doanh thu và 53,7% LNST dự kiến.

Theo ghi nhận của một số nhà phân tích, có thể hiện nay những con số này không phải là vấn đề đáng lo ngại, vì một phần lớn doanh thu trong lĩnh vực này sẽ được ghi nhận trong quý IV. Cũng có chung đặc điểm về dòng chảy doanh thu vào những tháng cuối năm, các DN bất động sản cũng mới chỉ hoàn thành 43,4% mục tiêu lợi nhuận và khoảng 62% mục tiêu doanh thu.

Thế nhưng, vấn đề chính mà nhà đầu tư nên bắt đầu quan tâm, đó là sự giảm tốc trong tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Quý III/2018 là giai đoạn mà ngành ghi nhận doanh thu thấp nhất trong vòng 3 năm gần đây, đặt ra câu hỏi rằng liệu lĩnh vực này đã đạt đến giai đoạn bão hòa trong chu kỳ hoạt động hay chưa. Chỉ tính riêng quý III/2018, ngành xây dựng và vật liệu đạt LNST là 2.869 tỷ đồng, giảm lần lượt 8% theo quý và 17,5% so với cùng kỳ. Sau giai đoạn tăng trưởng đều đặn từ quý II/2016 đến quý III/2017 và đạt đỉnh vào quý IV/2017, kết quả của ba quý đầu năm 2018 cho thấy sẽ khó có thể có một sự bứt phá ngoạn mục trong giai đoạn cuối năm 2018.

Theo thống kê của CTCK Rồng Việt, trong số 19 ngành trên thị trường, xây dựng và vật liệu ghi nhận mức LNST giảm khá đáng kể trong 9 tháng đầu năm 2018 (giảm 24,1% so với cùng kỳ). Trên thực tế, nhiều công ty xây dựng đang gặp khó khăn trong việc tìm lời giải cho bài toán quản lý chi phí nguyên liệu đầu vào; cũng như giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến cấp phép xây dựng tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cùng ngành đã buộc các công ty tìm tới các dự án xây dựng có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn để đảm bảo được dòng chảy về doanh thu, ví dụ như phân khúc xây dựng khu công nghiệp.

Sự biến động về doanh thu và LNST cũng phần nào xuất phát từ thực tế là có nhiều công ty đang được phân loại vào lĩnh vực này (170 công ty) và mỗi công ty hoạt động đa dạng trong nhiều phân khúc xây dựng và kinh doanh nguyên vật liệu.

Doanh thu, lợi nhuận sụt giảm kéo theo đó là sự sụt giảm trong các tỷ suất đo lường khả năng sinh lời. Cụ thể, trong quý III/2018, EPS của ngành đã giảm 8,6% so với cùng kỳ xuống còn 1.535 đồng. Trong khi ROE cũng chỉ đạt 6,4%, thấp hơn 2,6 điểm phần trăm so với ROE của quý III/2017; tương tự, ROA đã giảm gần 1 điểm phần trăm để kết thúc quý III/2018 ở mức 2,3%. Với kết quả này, ROE và ROA của ngành đang ở mức thấp hơn nhiều so với ROE và ROA trung bình của tất cả các ngành, lần lượt là 9,6% và 4%.

Xét về sự thay đổi trong tỷ suất sinh lời, ROE của ngành ghi nhận mức giảm đáng kể là 2,6 điểm phần trăm và chỉ đứng sau mức giảm 5 điểm phần trăm của ngành Viễn thông (một ngành còn khá trẻ với 5 công ty niêm yết). Tương tự, sự sụt giảm trong ROA cũng khiến ngành xây dựng và vật liệu nằm trong top ba những ngành có tỷ suất sinh lời trên tài sản sụt giảm mạnh nhất so với năm 2017…

Trần Minh Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950