Nghị quyết 26 chuyển biến kinh tế địa phương

18:10 | 21/12/2021

Ngày 21/12/2021, Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Đào Minh Tú - Thành viên Ban Chỉ đạo TW tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW đã chủ trì buổi làm việc trực tuyến với Tỉnh ủy Quảng Nam tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

nghi quyet 26 chuyen bien kinh te dia phuong Nguồn vốn tín dụng đóng vai trò quan trọng trong thực hiện Nghị quyết 26
nghi quyet 26 chuyen bien kinh te dia phuong Tổng kết thực hiện Nghị quyết 26, mở ra thời kỳ mới phát triển "tam nông"

Tại điểm cầu Tỉnh ủy Quảng Nam có đồng chí Phan Việt Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam.

nghi quyet 26 chuyen bien kinh te dia phuong
Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại buổi làm việc

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực

Sau gần 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự chung sức, đồng lòng của người dân, doanh nghiệp, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, nông nghiệp đã trở thành trụ đỡ của nền kinh tế, nông thôn mới trở thành phong trào phát triển trên cả nước, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao.

Đối với tỉnh Quảng Nam, thông tin tại hội nghị, đồng chí Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cho biết, tỉnh đã kịp thời ban hành Chương trình hành động, các Nghị quyết, Kế hoạch để triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW và các Kết luận của Trung ương. Đồng thời, thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Nghị quyết thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình, đề án của địa phương, ban hành hàng trăm văn bản, quyết định, chỉ đạo liên quan đến cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững để thực hiện mục tiêu của Nghị quyết.

Cơ cấu kinh tế của Quảng Nam đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản trong GRDP giảm từ 25,84% năm 2008 xuống còn khoảng 14,5% năm 2020. Báo cáo tại hội nghị, theo ông Trần Anh Tuấn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2008-2020 là 4,16%, con số này cao hơn mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 26 của Trung ương là 3,5%-4%/năm và tốc độ tăng trưởng bình quân ngành này toàn quốc - 2,94%.

Cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng nông nghiệp giảm, lâm nghiệp và thủy sản tăng. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh lúa, cây ăn trái, rau màu an toàn, đặc biệt là tập trung phát triển cây dược liệu ở các huyện miền núi của tỉnh, với sản phẩm dược liệu có giá trị cao như sâm Ngọc Linh, quế Trà My... là những điểm nổi bật giúp tận dụng lợi thế của tỉnh, tăng năng suất, giá trị gia tăng cho nông nghiệp.

Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh đã có 113/194 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 58% - cao hơn mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 26 của Trung ương là 50%; ba huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Đời sống của người dân từng bước được cải thiện khi thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn cuối năm 2020 đạt mức 40,5 triệu đồng/người/năm - tăng gấp bốn lần so với năm 2010 và cao hơn mục tiêu tại Nghị quyết 26 của Trung ương là gấp 2,5 lần.

Đặc biệt, tỉnh đã huy động đa dạng các nguồn vốn để thực hiện Chương trình, trong đó vốn tín dụng ngân hàng chiếm cao nhất với 48,4%. Sự phát triển mạnh mẽ mạng lưới hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn trong gần 15 năm qua, với nguồn vốn huy động tăng gần 12 lần, tín dụng tăng gần 8 lần (tổng dư nợ hiện đạt khoảng gần 84.000 tỷ đồng) cơ bản đóng góp nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn nói riêng và toàn tỉnh nói chung.

nghi quyet 26 chuyen bien kinh te dia phuong
Đồng chí Phan Việt Cường chủ trì tại điểm cầu Tỉnh ủy Quảng Nam

Tập trung nguồn lực cho nông nghiệp nông thôn

Tại hội nghị, đại diện các sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội… tỉnh Quảng Nam đã chia sẻ một số mô hình tiêu biểu để làm rõ thêm những thành tựu đạt được, trong đó nêu bật các chỉ tiêu, các điển hình trong triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW tại địa phương cũng như vướng mắc, đề xuất kiến nghị trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 26.

Dưới góc độ ngành Ngân hàng trên địa bàn, Phó Giám đốc phụ trách NHNN tỉnh Quảng Nam ông Phạm Trọng cho biết, dư nợ tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có tốc độ tăng trưởng tốt qua các năm với mức tăng bình quân chung đạt 24,37%, những năm gần đây luôn chiếm tỷ trọng khá cao (năm 2020 gần 28%) trong tổng tín dụng chung của tỉnh. Đến nay, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh đạt hơn 23.000 tỷ đồng; vốn tín dụng góp phần hỗ trợ phát triển một số mặt hàng nông sản thế mạnh của tỉnh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nông nghiệp, nông thôn như chăn nuôi (đạt 4.123 tỷ đồng, chiếm 19%), thủy sản (đạt 1.683 tỷ đồng, chiếm 7,6%), lâm nghiệp (đạt 1.169 tỷ đồng, chiếm 5,3%)...

Bên cạnh đó, vốn tín dụng cũng đã góp phần quan trọng thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh, với tổng dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới trên địa bàn đến nay đạt trên 17.478 tỷ đồng - chiếm gần 50% tổng nguồn vốn thực hiện chương trình này.

Lắng nghe các trao đổi, thảo luận tại buổi làm việc, thay mặt Ban Chỉ đạo, Phó Thống đốc thường trực NHNN Đào Minh Tú đánh giá cao những kết quả mà tỉnh Quảng Nam đã đạt được qua gần 15 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết 26. Những kết quả này thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt có trách nhiệm và hiệu quả của Đảng bộ tỉnh, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh, thể hiện sự đồng sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện các chương trình, kế hoạch để lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn có những chuyển biến tích cực, đóng góp vào phát triển chung của địa phương và đóng góp cho khu vực miền Trung.

Bên cạnh những kết quả đạt được, theo Phó Thống đốc, việc phát triển nông nghiệp nông thôn của Quảng Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc cơ bản như: Chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành nông nghiệp còn chậm; chưa tạo được nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao; tổ chức sản xuất còn hạn chế, nhỏ lẻ, thiếu liên kết; hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến còn thiếu và hạn chế. Những khó khăn của dịch Covid-19 đã tác động lớn đến sự ổn định và phát triển của tỉnh hiện nay về sản xuất, dịch vụ, y tế, an sinh xã hội, lao động,... đặc biệt là tới các hoạt động du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng nông thôn, vốn là điểm nhấn trong hoạt động dịch vụ của tỉnh.

nghi quyet 26 chuyen bien kinh te dia phuong
Phó Thống đốc thường trực Đào Minh Tú chủ trì buổi làm việc tại điểm cầu NHNN

Phó Thống đốc Đào Minh Tú cũng lưu ý và mong muốn tỉnh thời gian tới chú trọng bám sát định hướng tại các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, với mục tiêu xây dựng “nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” để đề xuất quan điểm, chủ trương, thể chế thực hiện cho giai đoạn mới cho phù hợp. Phó Thống đốc cho rằng, “phải nhìn nhận đầy đủ bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước với các vấn đề nổi cộm hiện nay như Cách mạng Công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu,... để tìm ra lợi thế so sánh của tỉnh trong phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn. Trên cơ sở đó, đưa ra định hướng, mục tiêu phát triển khu vực này”.

Về phía ngành Ngân hàng, đối với cơ chế chính sách, tín dụng cho nông nghiệp nông thôn đã có Nghị định 41, sau đó được sửa đổi, bổ sung thành Nghị định 55, và sửa đổi gần đây là Nghị định 116.

“NHNN cũng xác định là sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát lại Nghị định này trong bối cảnh hiện nay và trình Chính phủ nếu cần thiết sửa đổi theo hướng mở rộng hơn nữa, tạo điều kiện hơn nữa cho lĩnh vực này, đặc biệt là hộ nông dân, hộ sản xuất để có nguồn vốn chủ động trong sản xuất”, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho hay.

Phó Thống đốc đề nghị hệ thống ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt vấn đề lãi suất trong cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên, trong đó có nông nghiệp nông thôn với lãi suất thấp (không quá 4,5%/năm) theo đúng chủ trương của Chính phủ. Đồng thời đặt ra vấn đề cần nghiên cứu sâu sắc hơn đối với việc nâng cao dòng vốn tín dụng đối với các Hợp tác xã.

Liên quan tới vấn đề thời sự hiện nay là hỗ trợ doanh nghiệp, các đối tượng vay vốn, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thông qua việc cơ cấu lại nợ, miễn, giảm lãi, phí khi gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19, Phó Thống đốc khẳng định việc này sẽ tiếp tục được NHNN triển khai quyết liệt, và coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giải pháp quan trọng vừa là trực tiếp hỗ trợ cho doanh nghiệp bằng nguồn lực ngành Ngân hàng, đồng thời cũng là chuẩn bị cho thực hiện triển khai gói phục hồi và phát triển kinh tế của Chính phủ…

Minh Khuê - Hoàng Giáp

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400