Nghịch lý giá thịt lợn do đứt gãy cung cầu

08:00 | 27/10/2021

Người tiêu dùng bày tỏ mong muốn giá thịt lợn sớm trở về mức bình ổn như thời điểm trước khi diễn ra dịch bệnh, có sự điều chỉnh tương xứng với giá lợn hơi xuất chuồng.

Theo số liệu của Sở Công thương TP. HCM, sau hơn 3 tuần thành phố "mở cửa" trở lại, giá lợn hơi vẫn chưa tăng lên như kỳ vọng, dù đây là nơi tiêu thụ thịt lợn lớn nhất khu vực phía Nam. Giá lợn hơi loại I vẫn giữ quanh mức 40.000 đồng/kg, còn lợn quá lứa có khi rớt đáy, chỉ còn hơn 30.000 đồng/kg. Còn tại khu vực miền Nam nói chung, giá lợn hơi lại có xu hướng tăng từ 5.000 - 8.000 đồng/kg. Cụ thể, tại 5 tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Kiên Giang, Trà Vinh và Bến Tre, giá thịt lợn đã điều chỉnh tăng 8.000 đồng/kg, lên khoảng 45.000 - 46.000 đồng/kg. Đây có thể coi là mức giá tương đối cao vào thời điểm hiện tại sau đợt dịch Covid - 19 lần thứ 4 diễn ra tại một số tỉnh thành phía Nam.

nghich ly gia thit lon do dut gay cung cau
Ảnh minh họa

Ông Nguyễn Kim Đoán, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai cho rằng, nếu giá thịt lợn hơi chỉ ở mức hiện tại, người chăn nuôi lợn không có lãi do các chi phí về thức ăn, thuốc men, vận chuyển đắt đỏ. Ngoài ra, hiện sức mua còn yếu nên người chăn nuôi chưa dám tái đàn. Song điều đáng nói, khi giá lợn xuất chuồng thấp, những tưởng người tiêu dùng sẽ được sử dụng thịt lợn giá “mềm’, nhưng hiện nay giá thịt lợn mảnh mua ở các chợ vẫn đang “neo” ở mức cao, tương đương với thời kỳ thực hiện giãn cách.

Theo ghi nhận của phóng viên tại khu vực thành phố Thủ Đức, giá thịt lợn các loại như chân giò, thịt đùi, nạc, vai, ba rọi... đang được tiểu thương, chủ sạp bán tới tay người tiêu dùng quanh mức 90.000-180.000 đồng/kg. Một số nơi bán giá thấp hơn do có mối quen làm chủ trại nuôi lợn có nguồn hàng tồn (lợn quá lứa), tuy thịt thường không ngon.

Tuy nhiên, nhiều người nội trợ vẫn rất thắc mắc khi thấy thông tin giá thịt lợn xuất chuồng giảm mạnh, xuống thấp có khi chỉ nhỉnh hơn 30.000đồng/kg, nhưng họ vẫn phải mua thịt lợn với giá cao mà không hiểu nguyên nhân. Ngoài ra, người tiêu dùng cũng bày tỏ mong muốn giá thịt lợn sớm trở về mức bình ổn như thời điểm trước khi diễn ra dịch bệnh, có sự điều chỉnh tương xứng với giá lợn hơi xuất chuồng.

Đó là mức giá tại các chợ truyền thống, còn giá bán lẻ thịt lợn tại các siêu thị cửa hàng tiện lợi, dù đã được hỗ trợ, bình ổn nhưng thực tế vẫn còn cao so với túi tiền của đa phần người lao động. Cụ thể, mới đây Công ty CP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (Vissan) có chương trình giảm giá 8 mặt hàng bình ổn với mức từ 8%-23% (tương đương 12.000-15.000 đồng/kg). Đối với mặt hàng thịt lợn, một số loại cụ thể có giá như sườn non giảm còn 198.400 đồng/kg, ba rọi 142.400 đồng/kg, cốt lết gần 90.000 đồng/kg.

Lý giải mức chênh lệch rất lớn giữa giá lợn hơi và giá bán lẻ thịt lợn đến tay người tiêu dùng, ông Nguyễn Ngọc An, Tổng giám đốc Vissan cho biết, giá cả được quyết định dựa vào cung và cầu, nhưng tính đến thời điểm hiện tại, thị trường vẫn chịu ảnh hưởng bởi đứt gãy cung cầu do Covid-19. Đối với doanh nghiệp, việc điều chỉnh, cân bằng giá cả không thể tùy tiện. Hơn nữa, nguồn lợn để doanh nghiệp cung ứng ra thị trường là lợn sạch, thực hiện chăn nuôi theo đúng quy trình nên chất lượng đầu ra luôn phải đảm bảo, vì thế phải gánh chi phí cao.

Đồng tình với quan điểm này, một chuyên gia thị trường ngành hàng tiêu dùng cũng cho rằng, cung - cầu thị trường vẫn chưa cân bằng, người bán có tâm lý găm hàng bởi cho rằng dịch bệnh còn đang diễn biến phức tạp nên giữ giá cao, hiện vẫn có ít người tham gia kinh doanh, nhất là trong khâu vận chuyển, cung ứng nên giá lợn sỉ thấp nhưng giá bán lẻ cuối cùng lại cao.

“Giá bán lẻ thịt lợn giảm chưa tương xứng với mức sụt giảm của giá lợn hơi là do nền kinh tế chưa trở lại hoạt động như bình thường. Trong giai đoạn giãn cách vừa qua, có rất nhiều lò mổ phải dừng hoạt động, những nhà máy lớn thực hiện "3 tại chỗ", lượng công nhân sụt giảm, năng suất thấp hơn, thị trường bị thu hẹp. Luồng vận tải đứt gãy, đều tác động rõ rệt đến thị trường. Còn việc có hay không lợi ích nhóm, làm giá thị trường, cần có cơ quan chức năng vào cuộc để làm rõ hơn vấn đề này, giúp tạo ra sự yên tâm cho người tiêu dùng và tránh thua thiệt cho người nông dân” - các chuyên gia phân tích.

Phương Nam

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.545 22.775 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.575 22.775 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.775 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.570 22.770 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.580 22.760 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.760 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.576 22.788 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.543 22.773 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.580 22.760 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.600 22.760 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.550
60.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.550
60.120
Vàng SJC 5c
59.550
60.270
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.250
Vàng nữ trang 9999
51.250
51.950