Ngổn ngang cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công

09:39 | 16/12/2019

Theo Bộ Tài chính, tính đến hiện nay trong tổng số gần 58.000 đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trên địa bàn cả nước, Chính phủ đã chọn ra được 338 đơn vị để đưa vào danh mục cần chuyển đổi thành công ty cổ phần.

Cổ phần hóa vẫn “án binh bất động” vì có nhiều người né tránh
Đề xuất mới về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Trong số này có 213 đơn vị đã được phê duyệt và đưa vào danh mục chuyển đổi. Tuy nhiên, hiện tại mới chỉ có 38 đơn vị phê duyệt xong phương án chuyển đổi và 31 đơn vị hoàn thành chuyển đổi, chiếm khoảng 14,5%.

Ảnh minh họa

Chậm và vướng về tài chính, tài sản

Theo nhận định của Bộ Tài chính, sau khi chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần, chất lượng cung cấp các dịch vụ công của các ĐVSNCL cơ bản có sự nâng cao. Tổng tài sản của các đơn vị tăng 27%, doanh thu tăng 58%, lợi nhuận tăng 52% và thu nhập của người lao động tăng hơn 30% so với thời điểm trước chuyển đổi.

Tuy nhiên, theo phản ánh của các địa phương thì việc chuyển đổi ĐVSNCL sang công ty cổ phần đang có quá nhiều bất cập, vướng mắc, thậm chí bế tắc trong quá trình xử lý các tài sản, tài chính tại các đơn vị. Cụ thể, Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hiện nay là văn bản pháp lý trực tiếp cao nhất để xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển đổi ĐVSNCL, nhưng chưa có hướng dẫn xử lý các nguồn kinh phí như: số dư quỹ cải cách tiền lương, quỹ bổ sung thu nhập, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp… Các văn bản pháp lý hiện tại cũng chưa hướng dẫn chi tiết về cơ chế tài chính, quản lý, sử dụng các tài sản cơ sở hạ tầng như: rừng, cảng, chợ, bến xe… nên các ĐVNSCL sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần chưa thể tiếp quản và sử dụng.

Ngoài ra, hiện nay đối với các ĐVSNCL, pháp luật chưa có những quy định ràng buộc về cơ chế giám sát tình hình cung cấp dịch vụ công sau cổ phần hóa, thiếu các chế tài đối với nhà đầu tư chiến lược, đồng thời chưa có quy định về việc bán toàn bộ phần vốn Nhà nước tại ĐVSNCL cũng như kết hợp phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ… Vì thế sau khi cổ phần hóa, các ĐVSNCL rất khó khăn trong việc mở rộng quy mô và kiểm soát, xử lý các nguồn lực tài chính.

Riêng về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các ĐVSNCL chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần, các đơn vị đã hoàn thành chuyển đổi cho rằng, mặc dù khi cổ phần hóa, các đơn vị được miễn phí trước bạ khi chuyển đổi các tài sản, miễn phí cấp giấy chứng nhận đăng ký DN mới và cho cơ chế thu hút nguồn vốn xã hội hóa.

Tuy nhiên, do những vướng mắc về pháp lý tài sản, hạch toán kinh phí nên các ưu đãi này cũng khó thực hiện. Bên cạnh đó, việc chưa có hướng dẫn về chính sách dôi dư lao động sau cổ phần hóa, nhất là cán bộ lãnh đạo cũng khiến các đơn vị dè dặt trong quá trình chuyển đổi.

Thoáng nhưng phải chặt chẽ

Nhận thức được những bất cập vừa qua trong hoạt động chuyển đổi các ĐVSNCL sang mô hình công ty cổ phần, mới đây Bộ Tài chính đã công bố dự thảo Nghị định nhằm thay thế cho Quyết định số 22/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

Điểm đáng ghi nhận của dự thảo văn bản mới này là cơ chế phân cấp trong việc phê duyệt phương án cổ phần hóa được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ phê duyệt danh mục chuyển đổi ĐVSNCL theo từng giai đoạn. Sau đó, UBND cấp tỉnh, thành phố và các bộ, ngành sẽ trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm về phương án chuyển đổi.

Đối với các bất cập về xử lý tài sản, tài chính của từng đơn vị, Dự thảo Nghị định cũng đã thống nhất, sau khi chuyển đổi các đơn vị phải xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp với lĩnh vực hoạt động. Trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất hoặc phương án sử dụng đất sau khi chuyển đổi không phù hợp thì phải trả lại Nhà nước để đấu giá theo quy định của pháp luật.

Để hỗ trợ các ĐVSNCL thu hút được nguồn vốn xã hội hóa, Dự thảo Nghị định cũng đã bổ sung hình thức bán toàn bộ Nhà nước hiện có tại ĐVSNCL hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Song song đó, phạm vi danh mục các ĐVSNCL cần cổ phần hóa cũng được mở rộng tới các đơn vị thuộc quận, huyện, thị xã… để chủ động chuyển đổi.

Riêng ở góc độ kiểm soát, một trong những nội dung được cho là chặt chẽ của Dự thảo Nghị định là bắt buộc các ĐVSNCL sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động phải chuyển từ mọi hình thức sử dụng đất sang hình thức thuê đất trả tiền hàng năm. Với cách làm này, những diện tích đất không sử dụng hết sẽ được cơ quan chức năng thu về để đấu giá.

Ngoài ra, Dự thảo cũng quy định bắt buộc phải có sự tham gia của Kiểm toán Nhà nước trong quá trình xác định giá trị ĐVSNCL trước khi cổ phần hóa. Việc này mặc dù chỉ yêu cầu thực hiện đối với những đơn vị quy mô lớn nhưng rõ ràng sẽ kiểm soát, định giá tốt hơn đối với hàng loạt tài sản công lớn đang nằm trong hệ thống các ĐVSNCL.

Cuối cùng, ở phía người lao động, Dự thảo Nghị định mở ra cơ chế khá thoáng đối với các ĐVSNCL sau khi cổ phần hóa khi cho phép các đơn vị giữ lại các công trình phúc lợi (nhà trẻ, bệnh xá), đồng thời quy định rõ chính sách bán cổ phần cho người lao động bằng 60% giá thị trường. Người lao động có thể mua từ 2.000 – 8.000 cổ phần của ĐVSNCL sau khi chuyển đổi sẽ là cơ hội để các đơn vị trở thành những công ty cổ phần dịch vụ công một cách thực chất.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.320 23.530 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.380 23.560 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.345 23.535 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.350 23.520 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.350 23.520 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.330 23.530 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.360 23.560 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.380 23.520 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
48.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
48.000
Vàng SJC 5c
47.000
48.020
Vàng nhẫn 9999
44.500
45.600
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.400