Người chăn nuôi gặp khó

10:01 | 06/04/2020

Do ảnh hưởng của Covid-19, nên nhiều hộ chăn nuôi gà trên địa bàn Nghệ An đang gặp nhiều khó khăn. Dù giá đã giảm mạnh, nhưng hiện nay vẫn còn một số lượng lớn gà đến thời kỳ xuất chuồng trên địa bàn vẫn không tiêu thụ được.

Theo nhiều chủ trang trại nuôi gà trên địa bàn Nghệ An, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 cộng thêm với dịch cúm gia cầm xảy ra ở một số địa phương trong cả nước, làm cho sức tiêu thụ gia súc cũng như gia cầm giảm xuống rõ rệt. Lâu nay, các sản phẩm gà vườn, hay thả đồi đều tiêu thụ tại địa phương. Nay nhiều hàng quán đóng cửa, việc tiêu thụ gặp khó khăn là chuyện dễ hiểu. Bà Lê Thị Bân, trú tại huyện Nghi Lộc cho biết, kể từ thời điểm dịch Covid-19 xuất hiện ở Việt Nam, việc bán gà gặp nhiều khó khăn. Mặc dù, trên thị trường giá gà nuôi theo hình thức bán thả đồi từ khoảng 80 nghìn đồng đã giảm xuống hơn 60 nghìn đồng/kg. Dù giá đã xuống rất thấp nhưng việc tiêu thụ vẫn rất khó khăn.

Ảnh minh họa

Tương tự là tại xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu -địa phương chuyên chăn nuôi gà thịt với số lượng lớn. Theo ông Đậu Ngọc Hòa - Giám đốc HTX Chăn nuôi VietGAP Diễn Trung, từ khi Việt Nam xuất hiện ca dịch Covid-19 đầu tiên đến nay khoảng hơn 1 tháng, giá gà thịt giảm sâu, nhưng vẫn khó tiêu thụ. Hiện HTX có 37 trang trại chăn nuôi gà thịt, số gà đến kỳ xuất chuồng 60 vạn con. Do không tiêu thụ được, các hộ chăn nuôi vẫn phải vay mượn để đầu tư thức ăn, nhằm duy trì đàn gà.

Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tái cơ cấu ngành chăn nuôi, với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi, hiện Nghệ An đang là một trong những địa phương có số lượng gia cầm lớn trong cả nước. Tuy nhiên, việc tiêu thụ các sản phẩm gia cầm trên thị trường lại đang gặp khó...

Câu chuyện người chăn nuôi gia cầm đang gặp khó không chỉ đang diễn ra ở Nghệ An mà còn ở nhiều địa phương khác trong cả nước. Bởi, thực tế hiện nay các chủ trang trại đang phải “tự thân vận động” là chính; chưa có sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, chưa hình thành được các chuỗi liên kết, đầu ra của sản phẩm chưa thực sự ổn định. Người chăn nuôi phải tự tìm các thương lái để tiêu thụ sản phẩm hoặc bán tại các chợ truyền thống nên giá cả thị trường bấp bênh và sản phẩm không được định đúng giá trị. Bởi vậy, các cơ quan chức năng cần có những chính sách phát triển mô hình chăn nuôi gắn với chuỗi từ sản xuất tới tiêu thụ, để đảm bảo thu nhập cho người dân. Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn do dịch bệnh như hiện nay..

Trung Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.200 23.410 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.230 23.410 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.213 23.403 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.215 23.425 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.198 23.398 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.230 23.400 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.260 23.390 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.340
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.340
48.750
Vàng SJC 5c
48.340
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.480
48.180
Vàng nữ trang 9999
47.180
47.980