Người tiêu dùng sẵn lòng chuyển sang ngân hàng số

09:00 | 07/04/2021

Một cuộc khảo sát gần đây của công ty phần mềm phân tích toàn cầu FICO tiến hành vào tháng 12/2020 - thời kỳ cao điểm đại dịch Covid-19 diễn ra trên toàn cầu - cho thấy, sự sẵn lòng của người tiêu dùng chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng kỹ thuật số và các cơ hội để các ngân hàng có thể phát triển dịch vụ hơn nữa.

nguoi tieu dung san long chuyen sang ngan hang so Chuyển đổi số mở "cánh cửa" mới cho ngân hàng
nguoi tieu dung san long chuyen sang ngan hang so Pháp lý và liên thông cơ sở dữ liệu: Nền tảng cho ngân hàng số phát triển
nguoi tieu dung san long chuyen sang ngan hang so Ngân hàng số: Tương lai nhìn từ hiện tại

Khảo sát của FICO cho thấy có 21% người Việt Nam muốn thực hiện những giao dịch bằng dịch vụ ngân hàng qua điện thoại; trong khi 20% muốn sử dụng ứng dụng mobile banking; 20% muốn sử dụng internet banking; 5% muốn trao đổi qua email; và 1% muốn sử dụng công nghệ hội nghị ảo.

“Nguy cơ lây nhiễm và các yêu cầu giãn cách xã hội khiến khách hàng không muốn đến giao dịch trực tiếp tại một chi nhánh ngân hàng vào năm ngoái. Điều này thúc đẩy sự chuyển dịch sang sử dụng dịch vụ trên các kênh ngân hàng kỹ thuật số trên toàn cầu”, ông Aashish Sharma - phụ trách bộ phận quản lý vòng đời rủi ro và quyết định của FICO tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho biết.

nguoi tieu dung san long chuyen sang ngan hang so

Theo số liệu của Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông), tổng số thuê bao di động cả nước là 132,52 triệu. Như vậy Việt Nam có mức độ phổ cập điện thoại thông minh cao với 55% thuê bao sử dụng điện thoại thông minh. Đó là điểm tựa để cho các ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại.

Tuy nhiên theo ông Sharma, “việc có thể phân phối và quản lý nhiều kênh phù hợp với sở thích của khách hàng và mang đến trải nghiệm liền mạch và hấp dẫn vẫn là một thách thức”. Bởi vậy, “đầu tư vào các công cụ truyền thông và quản lý khách hàng để mở rộng các kênh giao dịch và kho sản phẩm, đồng thời có thể mang đến trải nghiệm cá nhân hóa và việc đưa ra quyết định được cải thiện là chìa khóa đem tới thành công cho ngân hàng kỹ thuật số”.

Khảo sát cũng cho thấy thái độ của khách hàng đối với công nghệ mới của ngân hàng như tự động hóa thu nợ có thể mang đến một số hành vi thú vị. “Cần lưu ý rằng trong những giai đoạn khó khăn, một số khách hàng thích sử dụng các dịch vụ trực tuyến tự động, thông minh. Chẳng hạn như dịch vụ truyền thông khách hàng FICO® (CCS) để tránh bối rối khi nói chuyện về các khoản vay chưa thanh toán. Nếu khách hàng thích sử dụng các kênh kỹ thuật số trong những giai đoạn khó khăn, hay trong giai đoạn khó khăn nhất của họ, thì điều này có thể cho thấy hoạt động của ngân hàng chi nhánh sẽ tiếp tục suy giảm”, ông Sharma giải thích.

Cuộc khảo sát cho thấy trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cứ ba người tiêu dùng thì có một người thích được một ngân hàng phục vụ tất cả các nhu cầu ngân hàng của họ. Ở Việt Nam, con số này cao hơn đáng kể ở mức 57%, bên cạnh đó là 34% người tiêu dùng “phần nào đồng ý” rằng họ cũng thích được một ngân hàng phục vụ tất các nhu cầu dịch vụ ngân hàng. “Ngày nay, những người sử dụng ngân hàng kỹ thuật số đang tìm kiếm khả năng kiểm soát và khả năng hiển thị tốt hơn đối với tình hình tài chính của họ”, ông Sharma cho biết.

Đặc biệt, khi được hỏi về mức độ sẵn sàng thử sử dụng dịch vụ của một công ty fintech hay một ngân hàng cạnh tranh khác không, 35% người Việt Nam nói rằng họ có xem xét điều này, 42% tương đối cởi mở với ý tưởng này. “Để củng cố và tăng cường sự tham gia của ngân hàng chính, các bên cho vay cần cung cấp các tính năng ngân hàng kỹ thuật số cạnh tranh với các đối thủ để đảm bảo sự gắn bó với khách hàng và duy trì mối quan hệ khách hàng lâu dài”, ông Sharma nói thêm.

Khảo sát cũng đã chỉ ra các lý do hấp dẫn nhất mà người tiêu dùng cân nhắc chuyển sang sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác. Theo đó, 15% người tiêu dùng Việt Nam cho biết lý do số một của họ là để đảm bảo tính cá nhân hóa và khả năng kiểm soát được cải thiện trong khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số. Lý do khác là khả năng kiểm soát thẻ thanh toán (đặt giới hạn giao dịch, khóa/mở khóa); khả năng thiết lập các khoản thanh toán định kỳ và các tính năng bảo mật được cải thiện như sinh trắc học và xác thực dùng hai yếu tố…

Đây sẽ là những gợi ý cho các ngân hàng Việt Nam trong hành trình chuyển đổi số cũng như đưa ra các giải pháp giữ chân khách hàng trong tương lai.

Ngọc Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800