Người Việt đang dùng nhiều dầu ngoại

11:00 | 18/11/2019

Nhu cầu sử dụng dầu ăn của thị trường Việt hiện nay là 1,5 triệu tấn/năm. Nhưng sản xuất trong nước chỉ đáp ứng 40%, còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu

5 năm trở lại đây, thị trường dầu ăn ở Việt Nam bỗng trở thành tâm điểm thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, hấp dẫn với nhiều doanh nghiệp, mặc dù theo khảo sát của các công ty nghiên cứu thị trường thì lượng sử dụng dầu ăn bình quân của người Việt chỉ đạt 9,5 kg/người/năm, thấp hơn tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra 13,5 kg/người/năm. Song, từ thực tế tiêu thụ hiện nay, có thể dự báo đến năm 2020, nhu cầu tiêu thụ dầu ăn của Việt Nam sẽ ở mức 16,2kg/người/năm.

Theo ông Trần Kim Thành, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam (Vocarimex), hiện nay Việt Nam có khoảng 40 doanh nghiệp kinh doanh trong ngành dầu ăn với quy mô thị trường ước đạt 30.000 tỷ đồng/năm. Trên thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp nội đang có lợi thế hơn, chiếm khoảng 80% thị phần.

Ba doanh nghiệp đang dẫn đầu ngành dầu ăn là Tường An, Cái Lân và Nhà Bè. Trong đó, Cái Lân (Calofic) chiếm tới gần 40% thị phần với các nhãn hàng quen thuộc như Neptune, Simply, Meizan… Đứng thứ 2 là Tường An với 20%, thứ 3 là Golden Hope Nhà Bè với 11%. Chưa dừng lại ở đó, do nhu cầu thị trường lớn, tiềm năng phát triển vẫn ở phía trước, nên nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài nước vẫn không ngừng đầu tư, tìm kiếm cơ hội phát triển.

Nếu tập đoàn KIDO đang sở hữu nhiều thương hiệu nổi tiếng là Tường An, Vocarimex, Golden Hope, thì các doanh nghiệp khác cũng chịu kém như Tập đoàn Sao Mai (tỉnh An Giang) cũng có nhà máy sản xuất dầu ăn từ mỡ cá tra (thương hiệu Ranee). Các doanh nghiệp nước ngoài như Tập đoàn Musim Mas (Singapore) là một trong những nhà sản xuất dầu thực vật lớn thế giới cũng đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất dầu ăn tại Việt Nam với công suất thiết kế  lên đến 1.500 tấn/ngày.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, từ đầu năm 2019 đến nay đã có trên 10 đoàn doanh nghiệp các nước có thế mạnh về sản xuất dầu thực vật  như Malaysia, Thái Lan, Úc, Ấn Độ… đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh. Trong đó, các ngành chức năng và doanh nghiệp Malaysia (nước sản xuất dầu ăn lớn trên thế giới) đã tới Việt Nam nhiều lần, do đánh giá cao thị trường tiêu thụ Việt Nam.

Mới nhất, đầu tháng 11/2019 Bộ Công nghiệp Malaysia đã dẫn đầu đoàn doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu ăn của nước này đến TP.Hồ Chí Minh, bà Teresa Kok, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Malaysia cho biết, từ đầu năm đến tháng 11/2019 Malaysia đã cung cấp gần 300 nghìn tấn dầu cọ cho thị trường Việt Nam (tăng đến 23 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2018). Doanh nghiệp Malaysia trong 5 năm qua đã phát triển rất mạnh tại thị trường Việt Nam trong lĩnh vực cung cấp dầu ăn và hiện là nguồn cung lớn nhất cho Việt Nam (chiếm 58,84% tỷ trọng, tương ứng 250 triệu USD/10 tháng năm 2019).

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu dầu ăn từ các nước khác như Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ và Úc. Điều này bắt nguồn từ nhu cầu sử dụng các sản phẩm dầu trên thị trường Việt Nam hiện là khoảng 1,5 triệu tấn/năm, nhưng sản lượng sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 40%, nên nhập khẩu nhiều là điều tất yếu.

Thanh Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530