Ngưỡng hỗ trợ 900 điểm?

09:00 | 01/10/2020

Ngày 18/9, VN Index chính thức vượt ngưỡng 900 điểm và kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của tháng 9, chỉ số này đóng cửa đạt 905,21 điểm. Như vậy, chỉ số này đã có tổng  8 phiên trụ vững trên ngưỡng 900 điểm. Câu hỏi đặt ra lúc này là liệu ngưỡng 900 điểm từ chỗ là đỉnh cần phải chinh phục sắp tới có trở thành ngưỡng hỗ trợ để thị trường hình thành mặt bằng giá mới hay không?

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 30/9
Thị trường xuất hiệu xu thế giằng co trong vùng 900 - 910 điểm
Trong nửa đầu tháng 10, VN-Index sẽ tiếp tục chịu thử thách ở vùng 900 điểm

Xét về thời gian, việc có thể trụ vững trong khoảng nửa tháng là đáng để kỳ vọng cho một chu kỳ tăng mới của VN- Index với đáy ngắn hạn là 900 điểm. Dòng tiền tiếp tục tham gia thị trường một cách mạnh mẽ và liên tục gom cổ phiếu mỗi khi có giá thấp. Thống kê cho thấy giá trị giao dịch khớp lệnh tại HoSE đều ở mức từ 5.000 tỷ đồng/phiên trong tất cả các phiên VN Index đạt trên 900 điểm. Nghĩa là mặt bằng thanh khoản vốn đã dồi dào nay còn dồi dào hơn và dòng tiền nhập cuộc mỗi lúc một đông cho thấy tâm lý chấp nhận vùng giá mới là rõ ràng.

Tuy nhiên phiên giao dịch ngày 29/9 cũng phát ra những tín hiệu cảnh báo về những rủi ro ngắn hạn. Vì ngưỡng 900 điểm của VN-Index tương ứng với vùng giá cổ phiếu trước khi có dịch Covid-19, thậm chí giá của nhiều cổ phiếu còn vượt thời điểm đầu năm nên việc bị nhiễu động là không thể tránh khỏi. Rủi ro nằm ở chỗ sự nhiễu động thường xuất hiện rất đột ngột và không dễ lý giải như phiên ngày 29/9, VN-Index ban đầu tăng khoảng 5 điểm từ 912 lên 917 điểm và sau đó điều chỉnh rồi tăng lại. Nhưng lực bán lại đột ngột tăng lên ở phiên chiều kéo theo một loạt cổ phiếu từ chỗ sáng tăng chiều lại giảm.

VN-Index bắt đầu mất mốc 910 điểm và giảm xuống dưới ngưỡng 904 điểm khi kết thúc phiên. Điều này diễn ra bất ngờ trong thời gian ngắn có thể dẫn đến những hành động như cắt lỗ ngắn hạn hoặc bán sớm đề phòng rủi ro. Trong những trường hợp này, dù thị trường sau đó hồi phục như phiên ngày 30/9 thì thiệt hại ngắn hạn mà nhà đầu tư phải chịu là không hề nhỏ. Có thể trong một xu hướng tăng, nếu có cắt lỗ hoặc bán sớm thì tỷ lệ thua lỗ chỉ tầm 5% đổ lại nhưng nếu một vài lần như vậy thì tổng thiệt hại là không hề nhỏ. Việc phân bổ nguồn vốn và giao dịch đúng thời điểm mới giúp nhà đầu tư vượt qua giai đoạn khó lường này.

Một yếu tố nữa cũng đáng để chờ đợi chính là mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý III đang đến, vốn có tầm quan trọng bậc nhất. Theo đó, báo cáo kết quả kinh doanh quý III cũng như 9 tháng đầu năm sẽ phác họa khả năng hoàn thành kế hoạch năm, hoặc nếu không cũng sẽ cho thấy doanh nghiệp sẽ đạt được những gì sau khi đi được 3/4 chặng đường.

Kết quả kinh doanh 9 tháng sẽ góp phần quan trọng để định hình mặt bằng giá mới cho cổ phiếu nhưng cũng sẽ có sự phân hóa khốc liệt. Những ngày gần đây, khi dòng tiền luân chuyển trong nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn để tạo thế cân bằng thì sóng lại nổi ở nhóm tầm trung và nhỏ. Động lực cho nhóm này có thể bứt phá hay không nằm ở kết quả kinh doanh.

Tuy nhiên nhóm này cũng cần VN-Index ít nhất phải đi ngang mà muốn như vậy, nhóm vốn hóa lớn cần những cái tên có vai trò trụ đẩy như sự bứt phá của VNM trong những phiên gần đây. Trong khi nhóm ngân hàng chỉ nổi sóng từng phần thay vì đồng loạt thì rõ ràng sẽ cần thêm nhóm cổ phiếu với các chủ đề liên quan như xuất khẩu, nông nghiệp, khu công nghiệp với vốn hóa lớn tăng giá đủ để hút tiền và duy trì sự tích cực cho thị trường.

Nói tóm lại trong nửa đầu tháng 10, VN-Index sẽ tiếp tục chịu thử thách ở vùng 900 điểm trước khi kết quả kinh doanh của nhóm vốn hóa lớn lộ diện để tiến đến các vùng cao hơn.

Phan Long

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200