Nguy cơ khủng hoảng nợ toàn cầu

10:30 | 02/01/2020

Quỹ Tiền tệ quốc tế vừa cảnh báo, xu hướng gia tăng sử dụng nợ doanh nghiệp cho các “canh bạc” đầu cơ tài chính có thể khiến nền kinh tế toàn cầu dễ bị tổn thương hơn trong thời kỳ suy thoái tiếp theo. Trong khi nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu cho rằng, núi nợ khổng lồ của các doanh nghiệp Trung Quốc là rủi ro lớn nhất đối với kinh tế toàn cầu.

Nợ toàn cầu tăng, đẩy rủi ro cao hơn
Nợ toàn cầu đạt kỷ lục 250 nghìn tỷ USD, đứng đầu là Mỹ và Trung Quốc
IMF cảnh báo: Nguy cơ khủng hoảng tài chính thế giới

Dễ tổn thương

Theo IMF, tỷ lệ nợ doanh nghiệp ở các nền kinh tế tiên tiến đã tăng đều đặn kể từ năm 2010 và hiện ở mức tương đương với mức đỉnh vào năm 2008. Mặc dù một số nền kinh tế lớn như Tây Ban Nha và Anh đã giảm đáng kể mức nợ, song nợ của doanh nghiệp tại Mỹ lại tăng liên tục kể từ năm 2011 để đạt mức cao kỷ lục vào cuối năm 2018.

IMF nhấn mạnh rằng, việc các công ty sử dụng nợ để trả cổ tức, mua lại cổ phần, mua bán và sáp nhập có thể làm khuếch đại các cú sốc nếu các công ty đó vỡ nợ, hoặc cố gắng giảm mạnh nợ bằng cách cắt giảm đầu tư hoặc lực lượng lao động.

“Khác với trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, rủi ro không chỉ tập trung ở khu vực tư nhân mà cả khu vực công, phần nào phản ánh di sản chưa được giải quyết của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu”, báo cáo từ Phó trưởng phòng phụ trách tài chính của IMF Marialuz Moreno Badia và Nhà kinh tế học cao cấp Paolo Dudine nêu rõ.

Cùng với việc gia tăng tính dễ bị tổn thương trước các cú sốc, mức nợ tư nhân ngày càng tăng có thể đòi hỏi một quá trình giảm nợ nhanh và tốn kém hơn. “Tuy nhiên, việc giảm nợ trong khu vực tư nhân cũng có thể trở thành gánh nặng cho khu vực công đã bị quá tải nếu sản lượng giảm, dẫn đến doanh thu thấp hơn hoặc sự vỡ nợ của công ty gây ra tổn thất và hạn chế cho vay của các ngân hàng”, Moreno Badia và Paolo Dudine nói thêm.

Nhận định của IMF cũng tương đồng với những gì mà Phó Chủ tịch NHTW châu Âu (ECB) Luis de Guindos đã cảnh báo, đó là việc các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm và các tổ chức lớn khác đã tăng khẩu vị rủi ro trong môi trường lãi suất thấp, khiến họ dễ bị tổn thương hơn với các cú sốc kinh tế và có thể lan sang hệ thống tài chính.

Bản cập nhật mới nhất về Cơ sở dữ liệu nợ toàn cầu của IMF ghi nhận, tổng nợ công và tư nhân toàn cầu ở mức 188 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2018, với tỷ lệ nợ trên GDP trung bình toàn cầu lên tới 226%. Đặc biệt dữ liệu theo quốc gia cho thấy, một số nền kinh tế tiên tiến có thể không được chuẩn bị cho cuộc suy thoái tiếp theo.

Mặc dù hầu hết các quốc gia, ngoài Mỹ và Nhật Bản, đã tìm cách giảm một số khoản nợ tích lũy sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ lệ nợ công vẫn cao hơn so với trước năm 2008 trong gần 90% các nền kinh tế tiên tiến. Trong một phần ba nền kinh tế tiên tiến, tỷ lệ nợ công cao hơn 30% so với mức trước khủng hoảng, trong khi tỷ lệ nợ công trung bình ở các thị trường mới nổi hiện ở mức tương đương với giai đoạn khủng hoảng giữa những năm 1980 và 1990.

“Tỷ lệ nợ công cộng trên 70% (GDP) ở gần một phần năm các quốc gia. Trong khi đó, đã có sự gia tăng liên tục của nợ công ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp nói chung, với 2/5 trong số đó trên toàn thế giới có nguy cơ cao, hoặc trong tình trạng khó khăn về nợ”, báo cáo của IMF nêu rõ.

Nợ doanh nghiệp Trung Quốc là mối nguy lớn nhất

Trong khi đó, Mark Zandi - nhà kinh tế trưởng của hãng xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moodys cho rằng, nợ của doanh nghiệp Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất của nền kinh tế đối với nền kinh tế toàn cầu. Bình luận của Zandi đến sau và cũng tương tự như những nhận định của hãng xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Fitch Ratings vào tuần trước khi cho biết, sự vỡ nợ của các công ty tư nhân ở Trung Quốc đã tăng kỷ lục trong năm nay.

Nếu như nợ doanh nghiệp là một rủi ro cho hệ thống tài chính và rộng hơn là nền kinh tế, thì Mark Zandi cảnh báo, sự mắc nợ của các công ty Trung Quốc là rủi ro lớn hơn nhiều. “Tôi cho rằng nợ của công ty Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất, ông nói và thêm rằng, nợ doanh nghiệp đang tăng rất nhanh ở Trung Quốc. Nguyên nhân một phần cũng bởi các doanh nghiệp đang phải vật lộn để đối phó với sự tăng trưởng chậm lại xuất phát từ cuộc chiến thương mại và các yếu tố khác.

“Tại Mỹ, bức tranh cũng tương tự dù không cùng mức độ, nhưng chúng ta đã thấy sự gia tăng rất đáng kể của đòn bẩy nợ, đó là cho vay với các công ty mắc nợ cao và họ dễ bị tổn thương nếu nền kinh tế chậm lại”, Zandi nói.

Nợ là một vấn đề trong nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, quốc gia đã cố gắng giảm thiểu rủi ro từ các nguy cơ này bằng cách thắt chặt các quy định để tăng tốc quá trình giảm nợ. Tuy nhiên, cuộc chiến thương mại đang làm sứt mẻ những nỗ lực nhằm giảm bớt núi nợ khổng lồ khi Trung Quốc tìm cách thúc đẩy nền kinh tế vốn đang chậm lại, nay lại thêm áp lực thuế quan từ Mỹ đối với hàng xuất khẩu. Hệ quả là Trung Quốc đã ít nhiều tạm dừng các nỗ lực loại bỏ và đưa ra nhiều biện pháp kích thích tăng trưởng hơn trong năm nay.

Fitch Ratings tuần trước cho biết, tỷ lệ vỡ nợ trái phiếu bằng đồng nhân dân tệ của các nhà phát hành tư nhân của Trung Quốc đã tăng lên mức cao kỷ lục 4,9% trong 11 tháng đầu năm 2019, tăng từ mức 0,6% trong năm 2014.

“Khoảng 80% các khoản vỡ nợ trên thị trường nội địa, cả về số lượng nhà phát hành và số tiền gốc, là từ khu vực tư nhân, khu vực dễ bị tổn thương hơn các doanh nghiệp nhà nước khi các thị trường tài trợ bên ngoài biến động và do đó các công ty tư nhân phải đối mặt với rủi ro thanh khoản và/hoặc tái cấp vốn cao khi điều kiện tín dụng được siết chặt”, báo cáo cho biết.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900