Nguy cơ từ nguyên liệu điều giá rẻ

11:00 | 06/05/2019

Trong 2 năm gần đây, thời tiết thất thường khiến cây điều mất mùa, cho hạt không ổn định. 

Theo đánh giá của Bộ Công thương, hạt điều Việt Nam vẫn giữ vững vị trí hàng đầu tại thị trường Mỹ và có lợi thế cạnh tranh cao hơn các nước xuất khẩu điều lớn như Brazil, Ấn Độ, Bờ Biển Ngà. Trong tháng 3/2019, Mỹ là thị trường xuất khẩu chủ lực của hạt điều Việt Nam, chiếm 31,8% tổng lượng điều xuất khẩu, đạt trị giá 205,96 triệu USD. Tiếp đến là Trung Quốc, với mức tăng kim ngạch nhập khẩu hạt điều tăng trên 90%, đạt 3,8 nghìn tấn, trị giá 30,5 triệu USD (tăng hơn cùng kỳ năm 2018 trên 100%). Các thị trường khác như Hà Lan, Úc, Đức, Anh, Canada… đều tăng số lượng xuất khẩu.

Thời gian tới, triển vọng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc được đánh giá là khả quan, do giá hạt điều toàn cầu được dự báo sẽ phục hồi trong quý II/2019 này.

Các DN xuất khẩu hạt điều đau đầu vì phụ thuộc nguyên liệu nhập chất lượng kém

Tuy thuận lợi về thị trường xuất khẩu và cũng là nước xuất khẩu hạt điều lớn nhất thế giới, nhưng cả DN chế biến hạt điều và người trồng điều trong nước khoảng 5 năm trở lại đây luôn gặp khó khăn “tăng dần đều”. Trong 2 năm gần đây, thời tiết thất thường khiến cây điều mất mùa, cho hạt không ổn định. Trên thị trường, ngay từ đầu niên vụ 2019, giá hạt điều nguyên liệu lại giảm mạnh (so cùng kỳ năm 2018). Hiện nay giá hạt điều thô thương lái thu mua tại nhà đang ở mức 28.000 đồng – 30.000 đồng/kg, còn giá giao tại các nhà máy chế biến của doanh nghiệp là 30.000 đồng – 32.000 đồng/kg. Đây là mức giá thấp nhất trong vòng ba năm qua và giảm hơn cùng kỳ năm 2018 đến 40% (cùng kỳ năm 2018 giá bán tại nhà là 40.000 đồng/kg).

Đây là nghịch lý khó giải quyết trong nhiều năm của ngành điều Việt Nam, gây nhiều khó khăn cho nhà nông và cả DN chế biến hàng xuất khẩu. Phía DN thì thiếu nguyên liệu chế biến, phải phụ thuộc nhập khẩu đến 70%, trong khi nhà nông trồng điều không có lãi, thậm chí chịu lỗ, khiến diện tích cây điều càng thu hẹp và DN càng thiếu nguyên liệu.

Ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) nhận định, năm 2019 này nhu cầu nhập khẩu điều thô của Việt Nam ước khoảng 1 triệu tấn, tăng hơn năm 2018 gần 7%. Nguyên do diện tích trồng điều và sản lượng thu hoạch trong nước ngày càng giảm, bởi giá hạt điều quá thấp, nông dân bỏ trồng vì không có lợi nhuận. Năm nay, nguồn cung hạt điều thô cho Việt Nam chủ yếu là từ Campuchia, Bờ Biển Ngà và Indonesia.

Vấn đề đáng ngại trong nhập khẩu nguyên liệu điều thô hiện nay là trên thị trường thế giới, cầu đang vượt cung. Hạt điều cỡ lớn W240 (loại từ 220 - 240 hạt/454gram) đang khan hiếm trong thời gian gần đây tại thị trường Ấn Độ (nước sản xuất và tiêu thụ nhiều hạt điều trên thế giới). Nhà nhập khẩu liên tục tăng giá điều nhân từ 8,48 USD/kg lên 9,24 USD/kg nhưng không có hàng để bán vì thiếu hàng.

Việt Nam nhập khẩu hạt điều thô nguyên liệu chủ yếu là loại giá rẻ, hạt cỡ nhỏ, là hạt điều tồn kho (thu hoạch từ các vụ trước, đã kém phẩm chất). Điều này khiến chất lượng điều chế biến của nước ta giảm, vừa gây hại cho thương hiệu điều Việt Nam, vừa không tăng được giá bán xuất khẩu lại không bền vững, nhất là ở những thị trường lớn khó tính như Mỹ và thị trường châu Âu.

Theo ông Phạm Văn Công, để gia tăng giá trị xuất khẩu hạt điều sang các thị trường lớn, các DN ngành điều đang tập trung cải thiện năng suất và chất lượng hạt điều xuất khẩu. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, muốn phát triển bền vững ngành điều, cần khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa năng lực chế biến và sản lượng sản xuất nội địa.

Thanh Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.370 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.157 23.347 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.170 23.350 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.170 23.340 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.173 23..383 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.170 23.370 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.190 23.360 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.210 23.340 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050