Nguyên nhân giá bất động sản bị đẩy lên

10:38 | 19/07/2019

Thị trường BĐS Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mặc dù có sự sụt giảm về lượng cung và lượng giao dịch nhưng tỷ lệ hấp thụ vẫn ở mức tương đối cao. Điều này cho thấy lực cầu tại 2 khu vực này vẫn rất mạnh.

Theo ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Môi giới BĐS Việt Nam (VARS), 6 tháng đầu năm 2019, thị trường BĐS Hà Nội và TP. HCM mặc dù có sự sụt giảm về lượng cung và lượng giao dịch nhưng vẫn duy trì tỷ lệ hấp thụ ở mức tương đối cao, không xuất hiện tình trạng bong bóng BĐS.

Cụ thể, lượng cung BĐS nhà ở quý II đạt 7.772 sản phẩm, tăng 49,3% so với quý I/2019. Tính chung cả 6 tháng đầu năm 2019 lượng cung BĐS nhà ở đạt 12.976 sản phẩm, bằng 76,05% so với cùng kỳ năm 2018. Trong quý II, nguồn cung ra thị trường tại Hà Nội nhiều nhất là phân khúc căn hộ trung cấp có giá từ 25 - 35 triệu đồng/m2 với hơn 5.700 căn hộ. Tiếp đó là loại căn hộ bình dân có giá dưới 25 triệu đồng/m2 có hơn 1.000 sản phẩm ra thị trường.

Ảnh minh họa

Lượng giao dịch BĐS nhà ở quý II đạt 5.616 sản phẩm, tăng 71% so với quý I/2019. Tính chung cả 6 tháng đầu năm 2019 lượng giao dịch BĐS nhà ở đạt 8.899 sản phẩm, bằng 68,9% so với cùng kỳ năm 2018. Chiếm tỷ trọng lớn trong lượng cung và giao dịch là sản phẩm nằm trong các đại dự án của Tập đoàn Vin Group.

Ông Nguyễn Văn Đính cho hay, tỷ lệ hấp thụ BĐS nhà ở 6 tháng đầu năm đạt 68,6%. Đặc biệt, trong quý II/2019 tỷ lệ hấp thụ căn hộ bình dân lên tới 84,7%. Bên cạnh đó, giá bán căn hộ chung cư quý II/2019 tiếp tục có sự tăng nhẹ.

Đối với thị trường BĐS TP. Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm 2019, lượng cung BĐS nhà ở đạt 10.715 sản phẩm, bằng 39,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng cung nhà ở ra thị trường trong quý II/2019 cao hơn quý I. Nguyên nhân tăng là do nguồn cung này chủ yếu đến từ một số đại dự án. Còn nhìn chung, số lượng dự án mở bán mới hoặc chào bán tiếp vẫn hạn chế bởi vướng mắc về thủ tục.

Trên thực tế, tại TP. HCM, nhiều dự án BĐS hiện nay đang chờ phê duyệt hoặc phải đợi lệnh mới được phép bán hàng, dù có những dự án đã đủ điều kiện bán hàng, thậm chí một số đã xây vượt móng. Lượng giao dịch BĐS nhà ở 6 tháng đầu năm 2019 đạt 8.560 sản phẩm, bằng 46,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Cụ thể, quý II lượng giao dịch nhà ở tại TP. HCM tăng mạnh so với quý I, đạt 5.602 sản phẩm (quý I đạt 2.958 sản phẩm). Trong đó, lượng giao dịch nhà ở trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất với 3.457 sản phẩm. Lượng giao dịch nhà ở cao cấp với 1.393 sản phẩm. Tiếp đó là nhà ở thấp tầng với 555 căn và đứng cuối cùng là nhà ở bình dân với 197 sản phẩm, ông Đính cho biết thêm.

Bên cạnh đó, tỷ lệ hấp thụ BĐS nhà ở 6 tháng đầu năm đạt 79,9%, đây là một con số khá hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Báo cáo của Hội Môi giới cho thấy, quý II/2019 TP. HCM có một số dự án phân phối điển hình và chiếm ưu thế về nguồn cung như Vinhomes Grand Park, Sunshine City Sài Gòn, Alpha King, Manhattan.

Về biến động giá, theo ông Nguyễn Văn Đính, nhiều dự án chung cư giá tăng 5 - 10%, nếu tính trung bình thì giá bán chung cư quý II/2019 tăng khoảng 5% so với quý I. Còn giá đất nền tăng 2-3% so với quý trước đó.

Thị trường BĐS Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mặc dù có sự sụt giảm về lượng cung và lượng giao dịch nhưng tỷ lệ hấp thụ vẫn ở mức tương đối cao. Điều này cho thấy lực cầu tại 2 khu vực này vẫn rất mạnh. Giá BĐS nhà ở có chiều hướng tăng nhẹ nhưng không sốt, thị trường duy trì ở mức ổn định. Vì vậy, không xuất hiện bong bóng BĐS.

Bên cạnh đó, một số vùng có thị trường BĐS đã phát triển mạnh trong một vài năm trở lại đây như Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai… cũng cho thấy sự giảm tốc về cả nguồn cung mới và lượng giao dịch bởi sự rà soát các dự án từ chính quyền địa phương. Trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất hiện một số thị trường BĐS mới như: Hòa Bình, Yên Bái, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận…

Trong 6 tháng cuối năm 2019, tại thị trường Hà Nội, nguồn cung BĐS chào bán ra thị trường và lượng giao dịch dự kiến tăng mạnh, tính hấp thụ tiếp tục duy trì ở mức cao. Đối với thị trường TP. HCM, với hàng loạt các động thái mang tính tích cực từ chính quyền thành phố hứa hẹn sự phát triển mạnh về lượng cung và lượng giao dịch. Tỷ lệ hấp thụ tiếp tục duy trì ở mức cao. Giá dự kiến tăng mạnh, bởi vậy sẽ kích thích các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nhỏ lẻ trong 6 tháng cuối năm, ông Nguyễn Văn Đính nhấn mạnh.

Hải Yến

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950