Nhà mạng nâng cao chất lượng dịch vụ

09:57 | 10/05/2019

Sự phát triển của dịch vụ mạng viễn thông hiện đang là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ tới sự “khởi sắc” trong triển khai IPv6 toàn cầu, bởi đây là giao thức mặc định trong mạng 4G.

Hiện mạng 5G đã được thử nghiệm thành công tại một số quốc gia, nhưng để đi vào khai thác đại trà vẫn cần phải có thời gian. Việc nâng cao chất lượng mạng là vô cùng cần thiết trong thời điểm hiện tại.

Tập đoàn Viettel vừa công bố kế hoạch nâng cao chất lượng mạng 4G thêm 25% - 50% tùy khu vực, tốc độ sẽ tăng trung bình từ 1,3-1,5 lần so với hiện nay. Theo kế hoạch, Viettel sẽ bổ sung thêm gần 10 nghìn trạm BTS 4G trên băng tần 2100MHz vừa được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép tại 15 thành phố lớn, có nhu cầu sử dụng data cao như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh... Thời gian lắp đặt dự kiến hoàn thành toàn bộ trong quý II năm nay.

Đồng thời, Viettel đang tiến hành giải phóng các thuê bao 2G ra khỏi băng tần 1800MHz, dành toàn bộ băng tần này cho mạng 4G. Khi hoàn tất, dung lượng toàn mạng 4G tốc độ cao của Viettel tăng thêm 25% so với hiện tại vì không phải chia sẻ với mạng 2G. Viettel trở thành nhà mạng duy nhất tại Việt Nam dành toàn bộ băng tần 1800MHz và 2100MHz cho mạng 4G.

Đây là bước đi táo bạo của nhà mạng khi có thể sẽ bị giảm số lượng thuê bao hiện hữu nhưng chất lượng dịch vụ lại được nâng cao đáng kể và thu hút nhiều khách hàng mới.

Nâng cao chất lượng dịch vụ là xu hướng tất yếu

Hiện tại, Việt Nam đang đứng cuối bảng về băng tần dành cho 4G. Cụ thể băng tần dành cho 4G ở nước ta có băng thông 15*2 MHz cho mỗi nhà mạng, trong khi đó, con số này của SK Telecom của Hàn Quốc là 70*2 MHz, Telstra của Úc là 80*2 Mhz, China Mobile của Trung Quốc là 110*2 MHz. Các nhà mạng cũng đề xuất với Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép đấu giá băng tần 2600MHz dành riêng cho dịch vụ 4G. Tuy nhiên, do vướng mắc về rào cản pháp lý, đề xuất trên vẫn chưa thực hiện được.

Sự phát triển của dịch vụ mạng viễn thông hiện đang là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ tới sự “khởi sắc” trong triển khai IPv6 toàn cầu, bởi đây là giao thức mặc định trong mạng 4G. Tại Việt Nam, Tập đoàn VNPT và Tập đoàn Viettel là 2 DN tiêu biểu trong triển khai IPv6 cho dịch vụ di động 4G LTE, chiếm phần lớn số lượng thuê bao di động sử dụng IPv6.

IPv6, viết tắt tiếng Anh: "Internet Protocol version 6", là "Giao thức liên mạng thế hệ 6", một phiên bản của giao thức liên mạng (IP) nhằm mục đích nâng cấp giao thức liên mạng phiên bản 4 (IPv4) hiện đang truyền dẫn cho hầu hết lưu lượng truy cập Internet nhưng đã hết địa chỉ.

Theo thống kê của Trung tâm Thông tin mạng châu Á – Thái Bình Dương (APNIC), Tập đoàn VNPT hiện dẫn đầu về kết quả triển khai IPv6 tại Việt Nam với tỷ lệ ứng dụng IPv6 đạt hơn 35%, đóng góp khoảng 56% cho kết quả triển khai IPv6 Việt Nam. Kết quả này có được là do VNPT đã tiên phong triển khai IPv6 cho dịch vụ di động 4G LTE tại Việt Nam, bên cạnh việc đẩy mạnh triển khai IPv6 cho thuê bao FTTH. Hiện tại, VNPT đã chuyển đổi IPv6 cho hơn 800.000 thuê bao Vinaphone.

Tại Việt Nam, theo báo cáo từ VNPT, tập đoàn sẽ tiếp tục mở rộng triển khai IPv6 cho khách hàng FTTH, với mục tiêu đạt 4 triệu thuê bao IPv6 đến hết năm 2019. Đồng thời, tập đoàn sẽ tiến hành thử nghiệm mô hình mạng thuần IPv6 trên mạng băng rộng cố định và mạng di động.

Việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực tế dịch vụ IPv6 trên mạng di động 4GLTE/5G cũng là một trong những nội dung trọng tâm mà Ban Công tác thúc đẩy IPv6 quốc gia sẽ phối hợp và hỗ trợ các DN đẩy mạnh. Hy vọng rằng, sự tăng trưởng chuyển đổi IPv6 trong dịch vụ di động 4G LTE nói riêng, cũng như việc duy trì các dịch vụ khác trên nền tảng IPv6 sẽ thúc đẩy ứng dụng IPv6 tại Việt Nam, nâng cao vị thế quốc gia trên môi trường Internet toàn cầu.

Hữu An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.350 23.560 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.350 23.540 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.380 23.550 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.380 23.550 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.360 23.580 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.365 23.565 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.410 23.540 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.550
48.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.550
48.400
Vàng SJC 5c
47.550
48.420
Vàng nhẫn 9999
45.100
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.700
45.800