Nhấn trọng tâm vào quản lý kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu

16:14 | 11/04/2016

Theo báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương (EAP) của WB vừa công bố, tăng trưởng khu vực Đông Á dự tính sẽ giảm từ 6,5% năm 2016 (theo dự báo trước đó) xuống còn 6,2% giai đoạn 2017-2018.

Con số dự báo này phản ánh quá trình dịch chuyển dần sang mô hình tăng trưởng chậm, bền vững hơn của Trung Quốc, với mức dự báo 6,7% năm 2016 và 6,5% năm 2017, trong khi tốc độ tăng trưởng năm 2015 là 6,9%.

Ngoại trừ Trung Quốc, các nước đang phát triển trong khu vực tăng trưởng 4,7% trong năm 2015 và tốc độ sẽ tăng đôi chút ở mức 4,8% năm 2016 và 4,9% giai đoạn 2017-2018 nhờ vào tăng trưởng tại các nền kinh tế lớn khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, viễn cảnh mỗi nước một khác tuỳ vào mức độ quan hệ thương mại và tài chính của họ với các nước thu nhập cao và với Trung Quốc và còn tuỳ thuộc vào xuất khẩu nguyên vật liệu.

Trong số các nền kinh tế đang phát triển lớn khu vực Đông Nam Á, Philippines và Việt Nam có triển vọng tăng trưởng mạnh nhất và đều có khả năng tăng trưởng trên 6% năm 2016. Indonesia có mức tăng trưởng dự báo là 5,1% năm 2016 và 5,3% năm 2017.

Một số nền kinh tế nhỏ, trong đó có Lào, Mông Cổ, và Papua Niu Ghinê sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng bởi giá nguyên vật liệu thấp và mức cầu bên ngoài thấp. Campuchia sẽ tăng trưởng dưới 7% một chút trong giai đoạn 2016-2018 do bị ảnh hưởng của giá nông sản thấp, hạn chế xuất khẩu dệt may và tăng trưởng du lịch giảm nhẹ. Tại các đảo quốc Thái Bình Dương, tăng trưởng sẽ tiếp tục ở mức khiêm tốn.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam và là Phó chủ tịch tương lai Khu vực Đông Á - Thái Bình Dương của WB, các nước đang phát triển khu vực Đông Á - Thái Bình Dương tiếp tục đóng góp to lớn cho tăng trưởng toàn cầu.

“Khu vực này chiếm gần 2/5 tăng trưởng toàn cầu trong năm 2015, hơn hai lần so với tổng của các nước đang phát triển tại tất cả các khu vực khác cộng lại. Khu vực này cũng đã được hưởng lợi từ các chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng, trong đó có các nỗ lực tăng nguồn thu nội địa tại một số nước xuất khẩu nguyên vật liệu. Nhưng nếu muốn duy trì tăng trưởng trong bối cảnh thách thức toàn cầu ta phải tiếp tục tái cơ cấu” – bà Victoria Kwakwa nhận định.

“Các nước đang phát triển khu vực Đông Á - Thái Bình Dương đang phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn, trong đó phải kể đến mức độ hồi phục kém hơn dự kiến tại các nền kinh tế thu nhập cao và tốc độ phát triển chậm hơn dự kiến tại Trung Quốc. Trong lúc đó thì các nhà hoạch định chính sách lại có ít không gian hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô hơn” - ông Sudhir Shetty, Chuyên gia kinh tế trưởng, khu vực Đông Á - Thái Bình Dương WB nói.

Vị này khuyến nghị: “Các nước cần áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khoá để giảm ảnh hưởng xấu của các rủi ro toàn cầu và khu vực và tiếp tục tái cơ cấu nhằm nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng hòa nhập”.

Báo cáo kêu gọi tiếp tục thực hiện tái cơ cấu kinh tế một cách cẩn trọng và bền vững và nhìn chung, các nước trong khu vực cần áp dụng các chính sách tài khoá cẩn trọng nhằm chặn các cú sốc từ bên ngoài trong tương lai. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng tại các nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa trên nợ công hoặc nợ khu vực tư nhân, hoặc chủ yếu dựa trên xuất khẩu nguyên vật liệu.

Về dài hạn, báo cáo kêu gọi các chính phủ tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Báo cáo kêu gọi các nước giảm bớt rào cản thương mại trong khu vực, ví dụ các rào cản phi thuế quan và các rào cản về quản lý nhà nước, kể cả rào cản trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

ĐP

Nguồn:

Tags: Kinh tế

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800