Nhật Bản hạ dự báo tăng trưởng kinh tế, giữ nguyên lãi suất cơ bản

14:27 | 28/10/2022

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã quyết định nâng dự báo lạm phát trong tài khóa 2022 từ 2,3% lên 2,9%, đồng thời hạ triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế nước này từ 2,4% xuống còn 2%.

nhat ban ha du bao tang truong kinh te giu nguyen lai suat co ban

Ngày 28/10, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã quyết định duy trì chính sách tiền tệ siêu lỏng do lo ngại đà phục hồi của nền kinh tế nước này có thể chậm lại vì tác động tiêu cực của lạm phát và sự mất giá của đồng yên.

Kết thúc phiên họp thường kỳ kéo dài 2 ngày, Hội đồng Chính sách BOJ đã quyết định nâng dự báo lạm phát ở Nhật Bản trong tài khóa 2022 (kết thúc vào cuối tháng 3/2023) từ 2,3% lên 2,9%, đồng thời hạ triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế nước này từ 2,4% xuống còn 2%.

Trong bối cảnh đó, BOJ quyết định giữ nguyên lãi suất ngắn hạn ở mức âm 0,1% và lãi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGB) kỳ hạn 10 năm ở mức khoảng 0% nhằm hỗ trợ cho đà phục hồi của nền kinh tế nước này.

Phát biểu trước phiên họp thường kỳ, Thống đốc BOJ Haruhiko Kuroda khẳng định nền kinh tế Nhật Bản đang hồi phục, được hỗ trợ bởi việc dỡ bỏ các biện pháp hạn chế nhằm kiểm soát dịch COVID-19.

Tuy nhiên, giá cả hàng hóa tăng cao đang làm tăng áp lực suy thoái đối với nền kinh tế khan hiếm tài nguyên này. Do vậy, việc nới lỏng tiền tệ là cần thiết để hỗ trợ cho nền kinh tế.

Giới phân tích dự báo việc BOJ quyết định duy trì chính sách tiền tệ siêu lỏng có thể làm tăng áp lực giảm giá đối với đồng yên. Điều này có thể sẽ khiến Chính phủ Nhật Bản phải can thiệp vào thị trường tiền tệ một lần nữa bằng nghiệp vụ bán USD để mua yên.

Kể từ đầu năm tới nay, đồng yên đã mất giá khoảng 30% so với đồng bạc xanh của Mỹ.

Hôm 20/10, đồng bản tệ của Nhật Bản đã để mất ngưỡng hỗ trợ tâm lý quan trọng 150 JPY/USD, chủ yếu do các nhà đầu tư lo ngại khoảng cách lãi suất giữa hai nền kinh tế sẽ tiếp tục nới rộng nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát trong các phiên họp sắp tới, trong khi BOJ vẫn kiên định với chính sách tiền tệ siêu lỏng.

Tuy nhiên, đồng yên đã bật tăng trở lại mức 145 JPY/USD vào cuối tuần trước, dường như nhờ sự can thiệp vào thị trường tiền tệ của chính phủ Nhật Bản.

Mặc dù vậy, vào đầu tuần này, đồng yên đã quay lại xu hướng giảm giá và đang đứng ở trên ngưỡng 146 JPY/USD vào lúc mở cửa phiên giao dịch ngày 28/10.

Cùng ngày, Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản (MIC) thông báo trong tháng 9, tỷ lệ thất nghiệp ở nước này đã tăng nhẹ từ 2,5% trong tháng trước đó lên 2,6%.

Cụ thể, tổng số người thất nghiệp ở nước này tăng 80.000 người so với tháng trước đó lên 1,83 triệu người, trong khi tổng số người làm việc tăng thêm 130.000 lên 67,43 triệu người.

Còn theo Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW), trong tháng 9, tỷ lệ việc làm sẵn có ở nước này tăng 0,02 điểm so với tháng trước đó lên 1,34, nghĩa là có 134 việc làm sẵn có cho 100 người tìm việc. Đây là tháng thứ 9 liên tiếp tỷ lệ này tăng.

Theo các chuyên gia, nhiều khả năng tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản sẽ giảm trở lại trong tháng 10 bởi vì ngày 11/10, chính phủ Nhật Bản đã mở cửa hoàn toàn cho du khách nước ngoài, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi của ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ khác.

Nguồn: TTXVN

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700