Nhất quán và quyết tâm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

19:42 | 01/04/2015

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo như vậy khi chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2015 diễn ra hôm nay 1/4.

Ảnh minh họa

Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng cao hơn

Thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2015, các thành viên Chính phủ nhất trí cho rằng, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục chuyển biến và đạt được kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng GDP quý I ước đạt 6,03%, cao nhất so với cùng kỳ 5 năm trở lại đây, nhờ sự đóng góp lớn của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, với mức tăng 8,25% (gần gấp đôi mức tăng cùng kỳ).

Sản xuất cũng phục hồi tích cực với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I tăng 9,1%, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,6%. Giá trị sản xuất lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,2%. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 10%, nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 9,2%...

Trong khi kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 chỉ tăng 0,15%, 3 tháng giảm 0,1%.

Một điểm nhấn tích cực đối với bức tranh kinh tế 3 tháng đầu năm là tín dụng tăng 1,25% (cùng kỳ năm trước giảm 0,57%), cho thấy niềm tin đã trở lại với cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất, tỷ giá, thị trường ngoại hối cơ bản ổn định; dự trữ ngoại hối tăng.

Sự phục hồi của sản xuất trong nước còn thể hiện qua con số thu ngân sách nhà nước 3 tháng đầu năm hết sức khả quan cho dù giá dầu thế giới sụt giảm mạnh; hay như tổng vốn đầu tư xã hội đạt gần 30,4% GDP (cùng kỳ đạt 28,4%), tăng 9,1% so với cùng kỳ...

Tuy nhiên, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận, bên cạnh kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức như tình hình sản xuất kinh doanh của DN còn khó khăn; tăng trưởng các khu vực dịch vụ và nông, lâm, thủy sản đạt thấp hơn cùng kỳ; xuất khẩu khu vực trong nước giảm so với cùng kỳ…

Ghi nhận nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai các Nghị quyết của Trung ương, kịp thời cụ thể hóa các Nghị quyết bằng các chương trình, hành động cụ thể, Thủ tướng nguyễn Tấn Dũng cho rằng, nhờ đó bức tranh chung tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và 3 tháng đầu năm đã có những chuyển biến tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. “Nổi bật là tốc độ tăng trưởng GDP quý I đạt 6,03%. Tôi đã nghe các Bộ chức năng báo cáo, khẳng định con số này đã được rà soát, đánh giá kỹ càng, trên cơ sở cách tính khoa học, theo thông lệ quốc tế”, Thủ tướng phát biểu.

Không được chủ quan

Tuy nhiên, phải "nhất quán và quyết tâm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không chủ quan”, Thủ tướng nhấn mạnh khi nói về nhiệm vụ thời gian tới.

Theo đó, Thủ tướng yêu cầu, các Bộ, ngành, địa phương trong thời gian tới, phải nỗ lực khắc phục những hạn chế, yếu kém; chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ, tăng cường phối hợp thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp được đã đề ra. Phải tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; triển khai các biện pháp khơi thông dòng vốn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn đầu tư phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, tăng tổng cầu và tạo ảnh hưởng lan tỏa tích cực đến các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Mở rộng thị trường xuất khẩu, khai thác có hiệu quả các lợi thế trong các Hiệp định thương mại, cam kết quốc tế và lợi thế cũng như thách thức của Cộng đồng kinh tế ASEAN. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, chủ động tham gia đàm phán, ký kết Hiệp định TPP và các Hiệp định thương mại tự do với các đối tác.

Bên cạnh đó, phải tiếp tục thực hiện đồng bộ, tăng cường phối hợp giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để bảo đảm ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; theo dõi sát diễn biến lạm phát, giá dầu và biến động kinh tế thế giới để có điều chỉnh chính sách phù hợp, kịp thời.

Thủ tướng cũng yêu cầu tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cổ phần hóa DNNN theo kế hoạch; có giải pháp phù hợp để sử dụng hiệu quả số tiền thu được từ cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành của DNNN.

Ngoài 289 DNNN cổ phần hoá trong năm nay, các bộ, ngành cần tính toán đẩy nhanh hơn nữa, không chỉ trong cổ phần hoá DN, mà cần bán tiếp phần vốn Nhà nước ở những DN không cần nắm giữ, hiệu quả thấp; đẩy mạnh thoái vốn đầu tư ngoài ngành.

"Việc cổ phần hoá không chỉ để có vốn đầu tư cho những lĩnh vực khác quan trọng, cấp thiết, mà mục tiêu cao nhất là để DN hoạt động ngày càng hiệu quả hơn", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.

P.Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950