NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng: Phát huy vai trò đầu mối liên kết hỗ trợ hệ thống

09:45 | 27/07/2020

“Vựa hoa” Mê Linh hôm nay không chỉ là nơi cung ứng lớn cho thị trường Hà Nội mà cả khu vực phía Bắc và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Song ít ai biết rằng, một trong những điểm tựa giúp địa phương chuyển đổi từ rau màu sang trồng hoa là Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) Mê Linh mà đằng sau đó có sự hậu thuẫn vốn từ QTDND Trung ương (nay là Ngân hàng Hợp tác xã - NHHT Việt Nam).

Nỗ lực hết mình vì thành viên
NHHT Chi nhánh Vĩnh Phúc: Tạo bước đột phá hỗ trợ tối đa các QTDND
Trụ sở chính Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam Chi nhánh Hai Bà Trưng

Nguồn vốn của NHHT những ngày đầu khởi lập đã giúp QTDND Mê Linh nâng cao năng lực tài chính để cung ứng vốn kịp thời cho QTDND Mê Linh, hỗ trợ bà con chuyển đổi 250 ha từ rau màu sang trồng hồng đá Đà Lạt thành công, góp phần cải thiện ổn định đời sống và phát triển kinh tế hộ gia đình. Nghề trồng hoa hồng và thương hiệu hoa hồng Mê Linh đã định vị trên thị trường ngày một rõ hơn sau năm 1998 với việc quỹ tiếp tục đầu tư giúp bà con chuyển đổi giống hoa hồng Đà Lạt sang hoa hồng Pháp.

Từ năm 2000 đến nay, lại là một làn sóng chuyển đổi cây trồng mới với các giống hoa cao cấp như cúc, ly, tuylip, hoa hồng bosai. Đặc biệt, sau năm 2010, thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, QTDND Mê Linh đã hỗ trợ bà con chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang đầu tư trang trại… hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang cơ khí, vận tải, nhôm kính, giúp bà con ổn định đời sống và tiếp tục phát triển kinh tế, góp phần đưa xã Mê Linh về đích nông thôn mới năm 2015.

Kinh tế xã ngày càng đi lên với nhiều thành viên trở thành tỷ phú nên gần 10 năm nay, QTDND Mê Linh không còn vay vốn điều hòa từ NHHT. Song NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng vẫn là một chỗ dựa vững chắc cho quỹ hoạt động, đảm bảo cân đối nguồn vốn một cách hợp lý. Hiện quỹ đang gửi tại Chi nhánh NHHT 100 tỷ đồng với việc hỗ trợ quỹ điều hòa nguồn vốn huy động. Đặc biệt, với một địa bàn sản xuất và kinh doanh hoa có tính chất mùa vụ, điều hòa của NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng giúp quỹ vừa sử dụng vốn hiệu quả, vừa đáp ứng yêu cầu thanh khoản cao của người dân.

Chủ tịch QTDND Mê Linh Nguyễn Kim Trường cho biết, tới đây quỹ sẽ nghiên cứu và khai thác dịch vụ chuyển tiền của NHHT để hỗ trợ thành viên mở rộng giao thương. Đồng thời tiếp tục củng cố, phát triển quỹ theo những tiêu chí đảm bảo an toàn mà Ngân hàng Nhà nước đã đặt ra tại Thông tư 04 cũng như Thông tư 21, nhằm nâng cao năng lực hoạt động và cung ứng vốn hỗ trợ 76% hộ dân trong xã là thành viên của QTDND, hiện có 1.763 thành viên.

*****

Những câu chuyện về sự hỗ trợ của NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng với sự phát triển của QTDND, qua đó gián tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương còn được thấy rõ qua diễn tiến hoạt động của 20 QTDND khác mà Chi nhánh đang phục vụ. Đặc biệt, với 3 quỹ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và 17 QTDND khu vực Đông Anh, Sóc Sơn, Mê Linh, Từ Liêm và Long Biên, nguồn vốn hỗ trợ và sản phẩm dịch vụ của Chi nhánh NHHT đã giúp nhiều QTDND nâng cao năng lực tài chính, hỗ trợ thành viên phát triển các ngành nghề, dịch vụ thế mạnh của địa phương, góp phần phát triển kinh tế đẩy nhanh tiến trình nông thôn mới.

“Một trong những động lực để Chi nhánh NHHT Hai Bà Trưng thực hiện tốt vai trò đầu mối liên kết hệ thống, góp phần hỗ trợ hệ thống QTDND phát triển là không ngừng đổi mới công tác quản trị, cơ cấu lại và kiện toàn bộ máy theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn”, Giám đốc NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng Nguyễn Văn Giang cho biết.

Theo đó, Chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo về lãi suất huy động của Ban lãnh đạo NHHT Việt Nam, chủ động cân đối nguồn vốn huy động và nhận tiền gửi điều hòa cho các QTDND trên địa bàn với lãi suất hợp lý. Tính đến ngày 31/12/2019, số dư tiền gửi điều hòa của các QTDND triên địa bàn Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên đạt 726 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện nay đã lên tới 1.020 tỷ đồng.

Đồng thời, Chi nhánh tích cực hỗ trợ nguồn vốn vay cho các QTDND hoạt động an toàn, giúp các quỹ đẩy mạnh việc cho vay đối với các thành viên. Tính đến cuối năm 2019, dư nợ cho vay các quỹ tại Chi nhánh đạt 104 tỷ đồng, trong đó dư nợ vốn cho vay dự án là 26 tỷ đồng. Chi nhánh cũng đã tích cực phối hợp cùng các QTDND để phát triển sản phẩm cho vay hợp vốn đối với các thành viên QTDND. Đến nay, dư nợ cho vay hợp vốn đạt 15,15 tỷ đồng.

Đặc biệt, trong bối cảnh các QTDND dần tự chủ và dư thừa vốn, NHHT Chi nhánh Hai Bà Trưng càng chú trọng tới việc triển khai các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến các QTDND. Qua đó không chỉ nâng cao năng lực, uy tín và khả năng cạnh tranh, vị thế của QTDND trên địa bàn mà còn nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng hiện đại cho thành viên của các QTDND, đặc biệt là người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với chi phí hợp lý như: thanh toán chuyển tiền CF-Ebank, sản phẩm thẻ, cho vay thấu chi… Đến nay đã có 7/20 quỹ trên địa bàn tham gia hệ thống chuyển tiền điện tử, 3/20 quỹ tham gia sản phẩm thẻ…

Trong thời gian qua, Chi nhánh cũng thực hiện tốt chỉ đạo của NHHT Việt Nam trong việc phát hành và cung cấp sổ tiết kiệm trắng cho các QTDND. Kể từ ngày 01/01/2020, 100% các quỹ có đầy đủ sổ tiết kiệm trắng theo mẫu mới sử dụng, đảm bảo đúng thời gian quy định của Ngân hàng Nhà nước theo Thông tư 21.

Chi nhánh cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong việc giám sát, kiểm tra các QTDND; góp phần cung cấp thông tin cho Hội sở chính NHHT Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước trong việc đánh giá hệ thống, từ đó đảm bảo an toàn chung cho sự phát triển của hệ thống QTDND. 

*******

“Trên nền tảng đã có được, từ nay đến cuối năm, Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ, nhân viên Chi nhánh sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Đảng bộ NHHT Việt Nam, triển khai có hiệu quả các chỉ đạo của Ban lãnh đạo NHHT về thực hiện Chỉ thị số 01/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời triển khai tốt các hoạt động của năm theo kế hoạch mà NHHT Việt Nam đã đặt ra”, Giám đốc Chi nhánh Nguyễn Văn Giang cho biết. 

Cụ thể hơn, Chi nhánh sẽ tiếp tục đổi mới, chủ động sáng tạo và phát huy tốt hơn nữa vai trò điều hòa vốn, tập trung nguồn vốn cho các QTDND trên địa bàn cho vay thành viên, phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần đưa hệ thống QTDND phát triển an toàn và bền vững. Đồng thời tăng cường mối liên kết hệ thống, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến các QTDND còn lại trên địa bàn để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của NHHT nói riêng cũng như hệ thống QTDND nói chung trên thị trường tài chính, tiền tệ.y

Hoa Hạ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250