Nhiều chính sách tín dụng trợ đỡ phát triển nông nghiệp, nông thôn

19:04 | 01/07/2021

Đến cuối tháng 6/2021, tín dụng nông nghiệp, nông thôn ước tăng 4,8% so với cuối năm 2020, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước đạt 3,82%, đóng góp 8,17% GDP cả nước.

Không chỉ thực hiện chủ trương của Chính phủ và NHNN đưa nông nghiệp vào 1 trong 5 lĩnh vực cho vay ưu tiên, tiềm năng của một đất nước có lợi thế lớn về nông nghiệp đã và đang thúc đẩy làn sóng đổ bộ mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng (TCTD) về khu vực này trong những năm gần đây.

Đặc biệt, từ năm 2020 đến nay, các TCTD đã đồng hành cùng doanh nghiệp và nông dân vượt qua khó khăn của dịch bệnh COVID-19 khôi phục và phát triển sản xuất khu vực nông nghiệp nông thôn bằng việc thực hiện có hiệu quả các chỉ đạo, chính sách của NHNN, đồng thời xây dựng các chương trình chính sách hỗ trợ riêng có.

Theo báo cáo từ NHNN, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn chiếm 22% bình quân tín dụng giai đoạn 2016-2020. Riêng năm 2020 (tính đến 31/10/2020), tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 2.168.852 tỷ đồng, tăng 6,21% so với cuối năm 2019, chiếm 24,89% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Dòng vốn tín dụng phục vụ nông nghiệp nông thôn không chỉ từ 2 hệ thống chủ lực là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội mà còn có sự tham gia của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và sự đổ bộ của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần về khu vực này, đặc biệt là tín dụng hướng tới nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp nông thôn.

nhieu chinh sach tin dung tro do phat trien nong nghiep nong thon
Ảnh minh họa

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành 5 năm ước đạt 2,62%/năm, vượt mục tiêu; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 5 năm đạt trên 190 tỷ USD; hết năm 2020, ước có trên 62% xã đạt chuẩn nông thôn mới…

Cả nước có trên 7.500 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu, tăng 1.500 cơ sở so với năm 2015. Trong 5 năm 2016 - 2020, có 67 nhà máy, cơ sở chế biến lớn với tổng mức đầu tư khoảng 2,58 tỷ USD được khởi công mới, đi vào hoạt động.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đứng thứ 2 Đông Nam Á, thứ 15 thế giới và hiện có mặt ở trên 196 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trên đà diễn tiến này, từ đầu năm 2021 đến nay, NHNN tiếp tục ban hành các văn bản tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ cơ cấu lại TCTD, xử lý nợ xấu; các chính sách nâng cao năng lực quản trị, điều hành, chú trọng quản trị rủi ro của TCTD; tăng cường năng lực thể chế trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; rà soát, sửa đổi quy định về hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân; Tạo cơ sở pháp lý khơi thông nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho các khu vực sản xuất kinh doanh, hỗ trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Cùng với đó là sự vào cuộc mạnh mẽ của các TCTD mở rộng cho vay khu vực này. Đặc biệt, trước những khó khăn của người dân và doanh nghiệp lan rộng do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các TCTD đã nghiêm túc triển khai Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Đồng thời, nhiều ngân hàng tung ra các chương trình hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, trong đó có khu vực nông nghiệp nông thôn.

Như Vietcombank giảm 1%/năm lãi suất cho vay đối với VND và 0,5%/năm đối với ngoại tệ cho toàn bộ dư nợ vay hiện hữu và cho vay mới của doanh nghiệp và người dân tại Bắc Giang và Bắc Ninh; Agribank hỗ trợ cho các chi nhánh mức lãi suất tối đa 2,5% để giảm lãi suất cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch quy mô hỗ trợ áp dụng cho dư nợ khoảng 100.000 tỷ đồng; VietinBank giao quyền chủ động cho các Chi nhánh được giảm đến 2% lãi suất cho vay, dự kiến mức hỗ trợ lãi, phí năm 2021 của VietinBank tiếp tục duy trì tối thiểu bằng mức đã thực hiện năm 2020 (khoảng 5.000 tỷ đồng)...

Đến cuối tháng 6/2021, tín dụng nông nghiệp, nông thôn ước tăng 4,8% so với cuối năm 2020, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước đạt 3,82%, đóng góp 8,17% GDP cả nước. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,69%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,25%, cao hơn mức tăng 2,42% của 6 tháng đầu năm 2020, đóng góp 0,11 điểm phần trăm.

Cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như tái cơ cấu trong khu vực nông nghiệp nông thôn đang thêm rộng mở khi những nỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp và người dân được hóa giải. Bên cạnh các sản phẩm tín dụng truyền thống và các tín dụng ưu đãi đang triển khai, nhiều TCTD đã tung ra các chương trình tín dụng mới hỗ trợ doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nói riêng từ cuối quý II/2021.

Như VietinBank mới đây vừa “đo ni đóng giày” một gói tín dụng riêng tài trợ ngành máy móc, thiết bị nông nghiệp lên tới 700 tỷ đồng. Đây là một chương trình hữu ích trong Gói ưu đãi toàn diện VietinBank SME Stronger 2021 dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, khẳng định sự cam kết đồng hành, mong muốn trở thành đối tác phát triển bền vững của VietinBank đối với cộng đồng doanh nghiệp. Đồng thời hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ về đẩy mạnh đầu tư cơ giới hóa cho nông nghiệp, từng bước đưa ngành sản xuất nông nghiệp trong nước theo kịp sự phát triển của nông nghiệp thời kỳ 4.0 trên toàn cầu.

Theo đó, các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh máy móc thiết bị nông nghiệp hoặc vay ngắn/trung/dài hạn mua máy móc, thiết bị nông nghiệp sẽ được ưu đãi lãi suất chỉ từ 5,2%/năm, ưu đãi phí bảo lãnh chỉ từ 1%; miễn phí chuyển tiền từ đại lý tới các nhà cung cấp cùng nhiều ưu đãi khác dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank.

VietinBank cho biết, ưu đãi theo Chương trình được áp dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa là đại lý của các nhà cung cấp máy móc, thiết bị nông nghiệp như: Công ty TNHH Máy nông nghiệp Yanmar Việt Nam (Nhật Bản), Công ty TNHH Kubota Việt Nam (Nhật Bản), Công ty TNHH TATA Việt Nam (Ấn Độ), Công ty Công nghiệp Deadong (Hàn Quốc); Tổng Công ty Máy Động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM), Công ty CP Ô tô Trường Hải (THACO) có nhu cầu vay vốn để mua máy móc, thiết bị nông nghiệp do các đơn vị trên phân phối; hoặc các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu vay vốn để mua máy móc, thiết bị tại các đại lý của các đơn vị trên.

Ngoài ra, để gia tăng trải nghiệm cho khách hàng trên nền tảng Internet, khách hàng chỉ cần đăng ký gói eFAST tài chính (bao gồm cả khách hàng mới hoặc khách hàng của VietinBank nhưng chưa từng phát sinh giao dịch tài chính trên eFAST) sẽ được miễn phí hoàn toàn các phí: Phí chuyển khoản VND trong và ngoài hệ thống; phí chi lương; phí nộp Ngân sách Nhà nước; Phí 2 thiết bị xác thực VietinBank OTP; phí đăng ký, duy trì VietinBank eFAST.

Hay như Agribank đang là ngân hàng chủ lực triển khai 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: Cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP nay là Nghị định 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn; Cho vay hộ gia đình, cá nhân thông qua Tổ vay vốn/tổ liên kết; Cho vay ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ và Thông tư 06/2009/TT-NHNN; Cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ; Cho vay tái canh cà phê; Cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản; Tín dụng ưu đãi phục vụ "nông nghiệp sạch"; Cho vay xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Hiện Agribank là ngân hàng có dư nợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn chiếm 70%/tổng dư nợ, chiếm gần 50% thị phần tín dụng nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam. Đặc biệt, từ ngày 16/6/2021, Agribank nâng gấp đôi quy mô gói tín dụng ưu đãi đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 triển khai từ năm 2020 với quy mô 100.000 tỷ đồng lên 200.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ khách hàng khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội. Mức lãi suất cho vay bằng VND với ưu đãi dưới 7%/năm.

Theo đó, tùy theo đối tượng và mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh, khách hàng có thể tiếp cận mức lãi suất giảm còn 4,5%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn và 6,5%/năm đối với các khoản vay trung, dài hạn, tương đương thấp hơn từ 2% - 2,5% lãi suất cho vay thông thường, cùng đối tượng. Mức lãi suất cho vay bằng USD với ưu đãi 2%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn và 4,5%/năm đối với các khoản vay trung, dài hạn. Thời gian áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi tối đa 6 tháng kể từ ngày giải ngân. Chương trình tín dụng ưu đãi kéo dài đến hết ngày 31/12/2021 hoặc đến khi hết ngân sách chương trình và được áp dụng rộng rãi tại 2.300 điểm giao dịch của Agribank trên toàn quốc.

Những nỗ lực của ngân hàng sẽ là một đòn bẩy đưa ngành nông nghiệp hướng đến mục tiêu phát triển nền nông nghiệp thông minh, hội nhập quốc tế, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đồng thời, xây dựng nông thôn mới phồn vinh và văn minh, nông dân giàu có; cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ, sử dụng hiệu quả và bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, đến năm 2025, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt từ 2,5 - 3,0%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt từ 48-50 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn gấp 1,5 lần năm 2020.

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ)

Nhất Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800