Nhiều hãng mỹ phẩm lớn của châu Á, châu Âu có kế hoạch mở rộng kinh doanh tại Việt Nam

14:20 | 20/05/2022

Nhiều doanh nghiệp mỹ phẩm hàng đầu châu Âu và châu Á như Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản đang tích cực tìm kiếm cơ hội gia nhập và mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Với các chiến lược kinh doanh khác nhau, các thương hiệu sẽ đưa ra những mô hình kinh doanh phù hợp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng từ nguồn khách hàng Việt.

nhieu hang my pham lon cua chau a chau au co ke hoach mo rong kinh doanh tai viet nam
Ảnh minh họa

Người tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng chú trọng tới thẩm mỹ và chăm sóc sức khỏe. Điều này là do nhu cầu sử dụng mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc da đang tăng cao. Đây cũng là lĩnh vực không bị ảnh hưởng bởi đại dịch hay thăng trầm của thị trường.

Theo Mintel - một công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu, thị trường mỹ phẩm Việt Nam đang có giá trị khoảng 2,3 tỷ USD/năm. Trong đó, các sản phẩm chăm sóc da được ưa chuộng nhất với hơn 60% người tiêu dùng sử dụng mỗi ngày.

Đồng quan điểm, một nghiên cứu của Statista cho biết tốc độ gia tăng số lượng cửa hàng mỹ phẩm trên toàn quốc tăng 40%, từ 87 trong năm 2021 lên đến 124 trong năm nay. Phần lớn cửa hàng tập trung tại hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Nguyệt Minh, Giám đốc Bộ phận cho thuê thương mại của Savills Việt Nam, chia sẻ: “Năm 2019, chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của Việt Nam đạt 6,6% GDP. Chỉ số này dự kiến sẽ đạt tỷ lệ tăng trưởng kép là 10,7% vào năm 2022. Trong đó, dẫn đầu về doanh thu là các sản phẩm chăm sóc da. Điều này là do người Việt Nam đang có xu hướng chăm sóc da nhiều hơn, đặc biệt từ đối tượng nam giới. Bên cạnh đó, với bản chất tiêu dùng hàng ngày, khối lượng tiêu thụ sản phẩm sẽ gia tăng tương xứng với nhu cầu của khách hàng”.

Nhiều doanh nghiệp hàng đầu châu Âu và châu Á, như Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, đang tích cực tìm kiếm cơ hội gia nhập và mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Với các chiến lược kinh doanh khác nhau, các thương hiệu sẽ đưa ra những mô hình kinh doanh phù hợp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng từ nguồn khách hàng Việt.

Đầu năm 2022, thị trường Việt Nam đã chứng kiến sự gia nhập của Sephora, một hệ thống bán lẻ mỹ phẩm hàng đầu thế giới đến từ Pháp. Sau 5 tháng vận hành thử nghiệm, đơn vị này đã chính thức mở bán thông qua kênh thương mại điện tử.

“Các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến sẽ dành phần lớn chi phí hoạt động để chạy chiến dịch marketing trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội hay sàn thương mại điện tử. Xét riêng về mặt hàng mỹ phẩm và chăm sóc da, một khi được khách hàng tin tưởng sử dụng, thương mại điện tử sẽ là kênh mua sắm thuận tiện nhất. Đây là một lợi thế đặc trưng của mô hình kinh doanh online”, bà Minh chia sẻ thêm.

Tuy nhiên, việc kinh doanh trực tuyến không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không vận hành các cửa hàng vật lý. Thực chất, phần lớn thương hiệu mỹ phẩm đang tích hợp song song cả hai mô hình, trực tuyến và trực tiếp. Họ coi các cửa hàng flagship như một kênh để thu hút khách hàng và thương mại điện tử như một nền tảng để bổ sung doanh thu.

Bà Minh nhận định: “Việc kinh doanh trực tuyến các sản phẩm thuộc lĩnh vực mỹ phẩm đang ghi nhận nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy nhiều thương hiệu mỹ phẩm thuộc phân khúc cao cấp vẫn sở hữu nhu cầu cao trong việc tìm kiếm mặt bằng. Họ mở cửa hàng vật lý với mục đích cung cấp trải nghiệm cũng như giúp khách hàng thử nghiệm sản phẩm mới. Điều này có thể là do người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn sản phẩm dựa trên trải nghiệm thực tế, thay vì đơn thuần thông qua các kênh quảng cáo. Bởi vậy, với từng chiến lược khác nhau, các đơn vị bán lẻ sẽ triển khai những mô hình kinh doanh phù hợp, có thể chỉ bán hàng trực tiếp hay trực tuyến, hoặc kết hợp cả hai”.

Nghiên cứu của Savills chỉ ra, nguồn cung nhà phố tại trục phố lớn vẫn còn hạn chế. Những địa điểm này sẽ giúp các thương hiệu mỹ phẩm tiếp cận khách hàng và thuận tiện hỗ trợ việc trải nghiệm và tham quan cửa hàng. Thông qua tương tác trực tiếp, các thương hiệu có thể dễ dàng nắm được mọi vấn đề cũng như tập hợp phản hồi từ người tiêu dùng. Từ đó, các nhãn hàng sẽ đưa ra cải thiện tương ứng với mong muốn và “điểm đau” của đối tượng mục tiêu.

Khi đặt cửa hàng tại trục phố lớn, các chương trình quảng cáo của thương hiệu cũng dễ dàng thu hút khách hàng hơn. So sánh với các kênh mua sắm thông thường, các cửa hàng flagship vẫn là một kênh hiệu quả để thương hiệu gia tăng tính kết nối với người tiêu dùng.

Tuy nhiên, lợi thế này sẽ dẫn đến việc cạnh tranh mặt bằng thuê giữa các ngành hàng kinh doanh khác nhau, như ẩm thực, thời trang, hay showroom. Điều này đã vô hình trung đẩy giá thuê tầng trệt lên hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo bà Minh, các hãng mỹ phẩm từ châu Á đang chiếm thị phần chính tại thị trường Việt Nam. Họ đã và đang lập kế hoạch đầu tư vào Hà Nội với kỳ vọng lớn. Khi gia nhập, các thương hiệu này thường dành một khoản đầu tư lớn vào cửa hàng đầu tiên. Họ có xu hướng tìm kiếm mặt bằng nhà phố, với vị trí “vàng” và độ nhận diện cao.

Chia sẻ về xu hướng phát triển trong tương lai, bà Hoàng Nguyệt Minh nhận định: “Sự bùng nổ của tầng lớp trung lưu trẻ quan tâm tới vấn đề sức khỏe đang là yếu tố thu hút các doanh nghiệp mỹ phẩm, đặc biệt là Châu Âu và Châu Á, gia nhập Việt Nam. Những xu hướng mới khi mua mỹ phẩm của các tín đồ vô hình trung giúp mô hình cửa hàng đa sản phẩm trở nên thịnh hành hơn. Mô hình này sẽ giải quyết được yêu cầu của khách hàng về việc trải nghiệm sản phẩm từ nhiều thương hiệu khác nhau. Điều này được chứng minh bởi các chuỗi Watson, Sociolla, Guardian…”.

Ngọc Hải

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650