Nhiều ngân hàng trung ương gặp khó khăn

08:55 | 10/03/2021

Ngân hàng trung ương (NHTW) các nước đang phải đối mặt với những thách thức từ nhiều quan điểm khác biệt với các nhà đầu tư sau khi nền kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi. Tại Mỹ, sự lạc quan với vắc-xin Covid-19 và sự tiếp tục kích thích của Chính phủ đã khiến lợi suất trái phiếu tăng vọt và đẩy lạm phát tăng lên mức cao nhất trong một thập kỷ qua.

nhieu ngan hang trung uong gap kho khan Các ngân hàng trung ương châu Á tăng dự trữ ngoại hối
nhieu ngan hang trung uong gap kho khan Nới lỏng tiền tệ sẽ kéo dài
nhieu ngan hang trung uong gap kho khan Ngân hàng Trung ương Ấn Độ tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối

Điều này dường như đang thay đổi quan niệm của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ, những người hứa hẹn sẽ duy trì chi phí đi vay ở mức thấp nhất ở một số lĩnh vực. Trong hai tuần tới, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và NHTW Châu Âu (ECB) cũng như các đối tác của họ ở Nhật Bản, Anh và Canada có khả năng sẽ phải nhắc lại những cam kết đó, cùng với mong muốn đảm bảo sự phục hồi trong việc tuyển dụng và tránh những sai lầm của cuộc khủng hoảng vừa qua khi có động thái rút hỗ trợ quá sớm.

nhieu ngan hang trung uong gap kho khan

Rủi ro bây giờ dường như đang bị lệch theo hướng khác. Trong khi các nhà hoạch định chính sách hoan nghênh lợi suất trái phiếu tăng như một tín hiệu tin tưởng vào triển vọng kinh tế, thì họ lại lo ngại một bước nhảy vọt không được kiểm soát sẽ phá hỏng sự phục hồi.

Đây là một sự thay đổi đáng kể so với một năm trước, khi tiềm lực kinh tế thế giới bị giảm do đại dịch Covid-19 và các NHTW đã phản ứng tức thì với các khoản hỗ trợ tiền tệ lớn chưa từng có.

Theo ông Rob Carnell - Chuyên gia kinh tế trưởng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tại ING Bank NV, các NHTW đang phải đối mặt với một thách thức mới khi tiếp tục duy trì các chính sách nới lỏng để thúc đẩy tiến trình phục hồi đang diễn ra, nhưng đồng thời có thể đẩy lạm phát tăng lên.

NHTW Canada lần đầu tiên cho biết họ có kế hoạch duy trì nhiều biện pháp kích thích để phục hồi kinh tế. Thống đốc Tiff Macklem đã lập luận rằng, chính sách cần phải giúp thúc đẩy không chỉ việc đón đầu, mà còn phải tạo điều kiện cho những thay đổi lâu dài và bền vững.

Bà Christine Lagarde, Chủ tịch ECB đã triệu tập họp các quan chức sau khi các dự báo cho thấy kinh tế khu vực đồng Euro đang tụt hậu như thế nào so với Mỹ do việc triển khai vắc-xin chậm và việc tăng cường các biện pháp thắt chặt nhằm hạn chế sự lây lan của vi-rút. Điều đó khiến Châu Âu sẽ gặp rủi ro về chi phí đi vay cho các công ty và hộ gia đình.

Thống đốc NHTW Nhật Bản Haruhiko Kuroda cho biết, NHTW đang tìm cách điều chỉnh khung chính sách hiệu quả hơn thay vì “đại tu” hay thay thế. Sẽ không có bất kỳ thay đổi nào đối với mục tiêu lợi nhuận trong vòng 10 năm.

Trong khi NHTW ở các nước phát triển có thể sẽ thống nhất trong việc cam kết các biện pháp kích thích liên tục, thì các quan chức của Trung Quốc lại có động thái ngược lại. Ông Guo Shuqing, Chủ tịch Ủy ban quản lý Ngân hàng và Bảo hiểm Trung Quốc cho biết, nước này rất lo lắng về những rủi ro xuất hiện từ “bong bóng” thị trường tài chính toàn cầu và lĩnh vực bất động sản của quốc gia. Tiếp theo đó là việc Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng thận trọng khoảng 6% trong năm, thấp hơn nhiều so với những gì các nhà kinh tế dự báo quốc gia sẽ đạt được.

Sự căng thẳng giữa lạm phát và mất giá đồng tiền đã buộc một số NHTW của các thị trường mới nổi phải hành động. Ukraine bất ngờ tăng lãi suất để chống lại lạm phát cao nhất trong hơn một năm. Brazil được dự báo sẽ bắt đầu tăng chi phí đi vay vào ngày 17/3.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900