Nhiều ngân hàng trung ương trì hoãn thắt chặt chính sách

06:00 | 23/08/2021

Việc NHTW New Zealand (Ngân hàng Dự trữ New Zealand - RBNZ) và NHTW Na Uy (Norges Bank) quyết định hoãn tăng lãi suất theo như dự kiến đang khiến nhiều người đặt câu hỏi: Liệu biến thể Delta của coronavirus có buộc các NHTW khác làm điều tương tự hay không?

nhieu ngan hang trung uong tri hoan that chat chinh sach Ngân hàng trung ương Úc sẽ lui thời điểm thu hẹp QE
nhieu ngan hang trung uong tri hoan that chat chinh sach Ngân hàng Trung ương châu Âu cam kết giữ nguyên lãi suất
nhieu ngan hang trung uong tri hoan that chat chinh sach Ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ giữ ổn định chính sách

Chiến dịch tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19 trên diện rộng đã làm dấy lên niềm tin về sự phục hồi kinh tế nhanh chóng ở các nền kinh tế phát triển. Mặt khác các nhà hoạch định chính sách tiền tệ ngày càng tỏ ra lo ngại hơn về áp lực lạm phát gia tăng. Hệ quả là không ít NHTW đã lên kế hoạch thu hẹp chính sách kích thích tiền tệ, thậm chí là tăng lãi suất.

nhieu ngan hang trung uong tri hoan that chat chinh sach
Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) đã trì hoãn tăng lãi suất

Tuy nhiên biến thể Delta đang lan rộng ra đã đẩy nhiều quốc gia đối mặt với làn sóng lây nhiễm mới, từ đó đe dọa tới đà phục hồi kinh tế, khiến nhiều NHTW đang phải tính lại kế hoạch thắt chặt của mình.

Chẳng hạn RBNZ đã quyết định hoãn tăng lãi suất vào giữa tuần trước sau khi nước này xuất hiện ca nhiễm Covid-19 đầu tiên kể từ tháng Hai và quốc gia này đã bắt đầu đóng cửa 3 ngày. “Quyết định của RBNZ mang tính biểu tượng”, Akira Takei - một nhà quản lý của Công ty quản lý tài sản Asset Management One ở Tokyo cho biết. “Nó cho thấy các NHTW khác không thể bỏ qua rủi ro lây nhiễm virus và nó dội một gáo nước lạnh vào triển vọng thu hẹp (các gói kích thích tiền tệ) và tăng lãi suất trên toàn cầu”.

Một ngày sau đó (tức ngày 20/8), Norges Bank cũng quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0% tháng thứ 15 liên tiếp. Trước đó trong một báo cáo phát hành vào tháng 6, Norges Bank dự kiến sẽ tăng dần lãi suất từ mùa thu năm nay.

Ủy ban Ổn định Tài chính và Chính sách Tiền tệ của Norges Bank nhấn mạnh, sẽ đặt trọng tâm vào sự đóng góp của lãi suất thấp trong việc đẩy nhanh tốc độ phục hồi kinh tế và việc làm. Điều này làm giảm nguy cơ thất nghiệp và sẽ giúp đưa lạm phát trở lại mục tiêu. Tuy nhiên Ủy ban cũng lưu ý, lãi suất thấp trong thời gian dài làm tăng nguy cơ hình thành mất cân đối tài chính.

“Trong đánh giá hiện tại của Ủy ban về triển vọng và rủi ro, lãi suất chính sách rất có thể sẽ được nâng lên vào tháng 9”, Thống đốc Norges Bank Øystein Olsen cho biết trong thông cáo phát đi sau quyết định giữ nguyên lãi suất.

Với RBNZ, Thống đốc Adrian Orr cũng cho biết hôm 19/8 rằng, cơ hội tiếp theo để hành động (tăng lãi suất) sẽ là tại cuộc họp chính sách tiếp theo của ngân hàng vào tháng 10. Ông cũng nhắc lại rằng ông dự định bắt đầu một chu kỳ thắt chặt và sẽ nâng lãi suất từ mức 0,25% hiện tại lên mức “trung hòa” là 2%.

Tuy nhiên đối với nhà kinh tế Takei của Công ty quản lý tài sản One, rủi ro có vẻ nghiêng về trì hoãn tăng lãi suất. Ông nói, các dự báo của các NHTW về lộ trình chính sách trong tương lai và nền kinh tế hiếm khi được chứng minh là đúng, chủ yếu là vì “chúng phản ánh hy vọng của các nhà hoạch định chính sách” rằng một nền kinh tế sẽ phát triển tốt.

Ngay cả Fed cũng cho biết sẽ không sớm tăng lãi suất. Mặc dù Biên bản cuộc họp chính sách tháng 7 của Fed vừa được công bố cũng cho thấy, mặc dù các thành viên của Ủy ban thị trường mở (FOMC) đã đưa ra kế hoạch để rút lại tốc độ mua trái phiếu hàng tháng, có thể trước khi kết thúc năm; tuy nhiên họ cũng muốn làm rõ rằng, việc giảm hoặc thu hẹp quy mô mua tài sản không phải là dấu hiệu báo trước cho một đợt tăng lãi suất sắp xảy ra. Thậm chí Biên bản cuộc họp ghi nhận rằng “một số” thành viên muốn đợi đến đầu năm 2022 để bắt đầu giảm dần chương trình mua tài sản.

“Hầu hết các thành viên lưu ý rằng, với điều kiện là nền kinh tế phát triển rộng rãi như dự kiến, họ đánh giá rằng có thể bắt đầu giảm tốc độ mua tài sản trong năm nay”, Biên bản nêu rõ và cho biết thêm rằng, nền kinh tế đã đạt được mục tiêu của Fed về lạm phát. Tuy nhiên, các thành viên của FOMC đồng thuận rằng, việc làm chưa đáp ứng được tiêu chuẩn “tiến bộ đáng kể hơn nữa” mà Fed đã đặt ra trước khi xem xét tăng lãi suất.

Giải quyết những lo ngại về lãi suất, các thành viên của FOMC cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tái khẳng định không có bất kỳ mối liên hệ cơ học nào giữa thời điểm cắt giảm và tăng lãi suất. Các quan chức Fed đã nhiều lần nói rằng, việc thu hẹp quy mô mua tài sản sẽ xảy ra đầu tiên, trong khi việc tăng lãi suất khó có thể xảy ra cho đến khi quá trình hoàn tất và Fed không tăng bảng cân đối kế toán nữa.

Trong khi tại Hàn Quốc, NHTW Hàn Quốc (BOK) sẽ nhóm họp trong tuần này. Song thị trường cũng kỳ vọng BOK sẽ giữ nguyên lập trường chính sách như hiện tại.

Trước đó, Thống đốc BOK Lee Ju-yeol đã nhiều lần báo hiệu rằng một đợt tăng lãi suất sẽ đến trong năm nay với lý do rủi ro tài chính ngày càng tăng. Thêm vào đó, sự tăng giá quá nóng ở thị trường nhà ở đang gây áp lực buộc BOK cắt giảm kích thích. Thế nhưng cũng giống như ở New Zealand, các trường hợp lây nhiễm mới tăng vọt từ biến thể Delta đã làm mờ đi triển vọng của nền kinh tế khiến các nhà hoạch định chính sách tiền tệ phải tính toán lại.

“Mọi thứ đã thay đổi kể từ tháng 7”, Kathleen Oh và Bum Ki Son - các nhà kinh tế tại Bank of America Corp. đã viết trong một nghiên cứu. Theo các nhà kinh tế này, BOK dự kiến sẽ đợi cho đến khi sự gia tăng các ca lây nhiễm nới giảm bớt trước khi tăng lãi suất.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.700
58.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.700
58.400
Vàng SJC 5c
57.700
58.420
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.250
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.950