NHNN đã cân bằng hợp lý giữa hỗ trợ phục hồi kinh tế và đảm bảo khả năng chống chịu của hệ thống

11:22 | 19/11/2020

Nhờ những biện pháp ứng phó nhanh chóng, quyết liệt của Chính phủ trong đối phó với Covid-19, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay dự báo đạt 2,4%, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Về chính sách tiền tệ, NHNN đã cân bằng hợp lý giữa hỗ trợ phục hồi kinh tế và đảm bảo khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.

Đây là nhận định được bà Era Dabla-Norris, Trưởng Đoàn cán bộ IMF, đưa ra sau khi hoàn thành hoạt động tham vấn Điều IV với Việt Nam. Cụ thể, Đoàn IMF vừa kết thúc đợt làm việc trực tuyến từ ngày 15/10-13/11 vừa qua với Việt Nam. Đoàn đã có các cuộc trao đổi hết sức hiệu quả với lãnh đạo NHNN, Bộ Tài chính, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan chính phủ khác. Đoàn cũng thảo luận với các đại diện của khu vực tư nhân, tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách và các tổ chức tài chính.

Kết thúc đợt công tác, bà Dabla-Norris đã thông tin về một số vấn đề đáng chú ý. Theo đó, nền kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng ở mức 2,4% trong năm nay, thuộc nhóm cao nhất thế giới là nhờ Việt Nam đã triển khai các biện pháp quyết liệt và nhanh chóng để kiềm chế những thiệt hại về sức khỏe người dân và kinh tế do Covid-19 gây ra.

Những chính sách củng cố tài khóa thận trọng trong những năm vừa qua đã tạo điều kiện cho Việt Nam triển khai được những biện pháp ứng phó tài khóa. Cho đến nay, các phản ứng chính sách tài khóa chủ yếu đi theo hướng hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hộ gia đình dễ bị tổn thương. Các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ và giảm căng thẳng tài chính tạm thời của NHNN cũng đã giúp giảm áp lực thanh khoản, hạ thấp chi phí nguồn vốn và đảm bảo tín dụng tiếp tục lưu thông.

Tăng trưởng kinh tế được dự báo sẽ tăng mạnh trở lại trong năm 2021, đạt mức 6,5% khi hoạt động kinh tế trong nước và nước ngoài tiếp tục quay trở lại bình thường. Chính sách tài khóa và tiền tệ được dự báo sẽ tiếp tục mang tính hỗ trợ, mặc dù mức hỗ trợ không còn lớn như trong năm 2020. Lạm phát được dự báo sẽ vẫn ở sát mức mục tiêu 4%.

Tuy nhiên, triển vọng kinh tế nói trên vẫn còn đối mặt với nhiều bất trắc đáng kể, như khả năng bùng phát dịch trở lại, quá trình phục hồi toàn cầu chậm chạp, căng thẳng thương mại đang diễn ra và khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn, có thể dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa và phá sản, căng thẳng trong thị trường lao động và khu vực ngân hàng.

“Với những bất trắc nêu trên, việc linh hoạt điều chỉnh quy mô và cơ cấu hỗ trợ chính sách sẽ trở nên rất quan trọng. Chính sách tài khóa phải đóng vai trò lớn hơn trong tổ hợp chính sách hỗ trợ”, bà Dabla-Norris nói.

Trong năm 2020, thâm hụt tài khóa dự báo sẽ nới rộng do thu ngân sách giảm, trong khi chi hỗ trợ và chi đầu tư đều tăng. Hỗ trợ tài khóa nên tiếp tục duy trì trong năm 2021 với ưu tiên cho việc cải thiện hiệu quả công tác triển khai. Trong trung hạn, cần tập trung vào huy động nguồn thu cho các dự án hạ tầng xanh và hiệu quả, tăng cường các hệ thống an sinh xã hội và đảm bảo bền vững nợ công.

Chính sách tiền tệ nên tiếp tục mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn. Một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn về cả hai phía trong khuôn khổ hiện nay sẽ giảm bớt nhu cầu tích lũy các đệm dự trữ và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh khi môi trường bên ngoài trở nên khó khăn hơn. “Đoàn hoan nghênh cam kết của các cơ quan chức năng trong việc từng bước chuyển sang khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ hiện đại hơn”, bà Dabla-Norris nhấn mạnh.

NHNN đã cân bằng hợp lý giữa việc hỗ trợ phục hồi nền kinh tế và đảm bảo khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Việc giám sát chặt chẽ những rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn là một yêu cầu thiết yếu khi mà các đệm vốn của ngân hàng vẫn còn thấp hơn ngân hàng tại các nước ngang hàng trong khu vực và triển vọng kinh tế vẫn còn nhiều bất trắc.

Các quy định về phân loại khoản vay và ghi nhận nợ xấu nên dần được quay trở lại áp dụng như bình thường để hỗ trợ sự minh bạch của bảng cân đối kế toán và niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Cần củng cố hơn nữa tình hình vốn của các ngân hàng và phát triển thị trường vốn để nâng cao sức chống chịu về tài chính, thúc đẩy huy động vốn dài hạn.

Những cải cách nhằm tăng kết nối giữa khu vực kinh tế trong nước và đầu tư nước ngoài cũng như nâng cao năng suất có ý nghĩa rất quan trọng để hỗ trợ cho tăng trưởng mạnh mẽ và bao trùm.

Nên ưu tiên cho việc giảm gánh nặng tuân thủ đối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước, cải thiện tiếp cận đất đai và nguồn lực tài chính, đặc biệt là cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cùng với đó, việc thiết lập một cơ chế phá sản riêng kịp thời và nhanh gọn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ giúp khơi thông được nguồn vốn và hạn chế những trường hợp thanh lý phá sản không cần thiết.

Ngoài ra, giảm sự mất cân đối giữa cung và cầu kỹ năng lao động, tăng cường tiếp cận công nghệ và nguồn vốn con người cũng sẽ giúp thúc đẩy năng suất lao động.

Sau đợt làm việc này, Đoàn sẽ soạn thảo một báo cáo để trình lên Ban Giám đốc Điều hành IMF thảo luận và ra quyết định vào tháng 1/2021.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.945 23.155 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.954 23.164 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.958 23.158 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.300
Vàng nữ trang 9999
52.300
53.000