NHTM: Phát triển bền vững nhờ thu nhập ngoài lãi

09:42 | 27/09/2022

Theo giới chuyên gia, trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển, việc tăng thu từ dịch vụ là xu hướng tất yếu, nằm trong chiến lược kinh doanh của các ngân hàng để giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng, giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận bền vững.

Những năm gần đây, nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng ở nhiều nhà băng lớn, nhỏ đang tăng lên đáng kể. Đơn cử như tại “ông lớn” Vietcombank, trong quý II/2022, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ là 694 tỷ đồng, tăng 62,1% so với cùng kỳ; còn tại VietinBank, lãi từ dịch vụ trong quý II ghi nhận hơn 1.560 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ.

nhtm phat trien ben vung nho thu nhap ngoai lai
Ảnh minh họa

Thu nhập ngoài lãi cũng là một điểm nhấn trong bức tranh kinh doanh của các NHTMCP. Đơn cử như tại HDBank, lũy kế 6 tháng đầu năm, thu nhập ngoài lãi tăng 32,6%. Đặc biệt mảng kinh doanh bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) và các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tiếp tục khởi sắc mạnh mẽ với thu nhập thuần gấp hai lần cùng kỳ.

VIB cũng ghi nhận nguồn thu nhập ngoài lãi đạt hơn 1.500 tỷ, đóng góp hơn 18% vào tổng thu nhập hoạt động, còn tại SeABank thu thuần ngoài lãi ghi nhận con số tăng trưởng ấn tượng, đạt 1.736 tỷ đồng, tăng 226% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong kết quả khảo sát mới đây, Vietnam Report đưa ra nhận định, những tháng cuối năm 2022, thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng được kỳ vọng sẽ tăng trưởng tốt, trong đó chủ yếu đến từ bancassurance, từ đó sẽ trở thành động lực thúc đẩy lợi nhuận.

100% chuyên gia và ngân hàng tham gia khảo sát của Vietnam Report cho rằng, lợi nhuận của các ngân hàng trong thời gian tới sẽ khó khăn hơn bởi chính sách quản trị rủi ro ngày càng nghiêm ngặt. Chính vì vậy, các chuyên gia kỳ vọng thu nhập ngoài lãi tiếp tục tăng trong ngắn hạn và trung hạn.

TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Tài chính, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, trong bối cảnh tín dụng khó tăng mạnh, trong khi lãi suất huy động đang tăng, lãi suất cho vay lại không thể tăng tương ứng khiến NIM của các nhà băng đang ngày càng mỏng. Để đảm bảo lợi nhuận, ngân hàng buộc phải tìm cách tối ưu các nguồn thu ngoài lãi.

Trong dài hạn, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu như trước đây, tín dụng là mảng kinh doanh mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng, tỷ lệ thu từ tín dụng ở một số ngân hàng lên tới 90% thì hiện các nhà băng đều đang có xu thế dịch chuyển sang tăng thu từ hoạt động phi tín dụng. Bởi lẽ, hoạt động tín dụng dù đóng góp một nguồn thu rất lớn nhưng kéo theo rất nhiều rủi ro như rủi ro thanh khoản, đạo đức, quy trình… Trong khi các hoạt động kinh doanh dịch vụ, ngoại hối, bảo hiểm… đang rất giàu tiềm năng và có khả năng đem lại sự ổn định, bền vững hơn.

Theo giới chuyên gia, trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển, việc tăng thu từ dịch vụ là xu hướng tất yếu, nằm trong chiến lược kinh doanh của các ngân hàng để giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng, giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận bền vững.

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng tới năm 2025, định hướng năm 2030 cũng đặt ra mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2020, tỷ trọng thu nhập từ phí dịch vụ đạt khoảng 12% - 13% và đến cuối năm 2025 tăng lên mức 16% - 17%.

Tuy nhiên, lựa chọn gia tăng thu ngoài lãi bằng cách nào mỗi nhà băng có chiến lược khác nhau. TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, mỗi ngân hàng cần xác định nhóm khách hàng mục tiêu mà mình hướng tới, từ đó “may đo” các dịch vụ, sản phẩm theo đúng đặc điểm của khách hàng.

Hơn hết, mỗi ngân hàng cần trở thành một trung tâm cung cấp tất cả các dịch vụ tài chính cần thiết. Tham khảo mô hình các ngân hàng lớn trên thế giới cho thấy, các ngân hàng đều có nguồn thu từ dịch vụ nhiều hơn cho vay, thông qua các sản phẩm như kiều hối, chuyển tiền quốc tế… đặc biệt là tư vấn tài chính cá nhân.

Theo ông Huân, phần lớn người dân Việt Nam đến ngân hàng chỉ đang gửi tiền tiết kiệm cho số tiền nhàn rỗi của mình mà chưa được tư vấn các kênh đầu tư hiệu quả. Thực tế, ngân hàng có nguồn dữ liệu khách hàng lớn và hoàn toàn có thể tận dụng nguồn dữ liệu này để phát triển các kênh dịch vụ đa dạng. Đây hứa hẹn sẽ mang lại nguồn doanh thu khổng lồ.

Đồng quan điểm, TS. Châu Đình Linh cho biết, trong quá trình “may đo” sản phẩm cho khách hàng, ngân hàng cần chú trọng đến việc tập hợp nhiều dịch vụ tài chính trong một gói sản phẩm chứ không phát triển các dịch vụ riêng lẻ. Đồng thời, ngân hàng cần có kế hoạch chuyển dịch cơ cấu doanh thu, nâng thu ngoài lãi lồng ghép trong mục tiêu chuyển đổi số.

Việc tăng quy mô thu nhập từ dịch vụ của các ngân hàng đầu tiên phải xuất phát từ việc nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin sẵn có, phát triển thêm các ứng dụng mới, tăng cường phòng ngừa rủi ro… Ngoài ra, yếu tố tiên quyết và quan trọng nhất mà ngân hàng xây dựng, phát triển các sản phẩm trong tương lai đó là luôn lấy khách hàng làm trung tâm.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900