NHTW Anh tăng lãi suất lên cao nhất 13 năm

08:12 | 09/05/2022

NHTW Anh (Bank of England - BOE) vừa quyết định tăng lãi suất lên mức cao nhất trong 13 năm để ứng phó với lạm phát. Thậm chí theo các chuyên gia, lãi suất tại Anh có thể còn tăng tiếp khi mà áp lực lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Kiểm soát lạm phát: Mục tiêu hàng đầu

Đúng như dự báo của các chuyên gia, tại cuộc họp chính sách tháng 5 diễn ra tuần trước, 6 trong số 9 thành viên thuộc Ủy ban chính sách tiền tệ (MPC) - cơ quan hoạch định chính sách của BOE - đã bỏ phiếu nhất trí tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, từ 0,75% lên 1%.

Đây là lần tăng lãi suất thứ tư liên tiếp của BOE kể từ tháng 12/2021. Đáng chú ý 3 thành viên còn lại của MPC không những là không phản đối việc tăng lãi suất mà trái lại còn muốn tăng lãi suất tới 50 điểm lên 1,25% trong bối cảnh các hộ gia đình Anh đang phải vật lộn với chi phí sinh hoạt tăng chóng mặt.

nhtw anh tang lai suat len cao nhat 13 nam
Ngân hàng Trung ương Anh – BOE

Giống như nhiều NHTW trên khắp thế giới, BOE có nhiệm vụ điều hành nền kinh tế ứng phó với áp lực lạm phát đang ngày càng lớn hơn do sự đứt gãy nguồn cung vì đại dịch Covid-19 và cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Lạm phát hàng năm tại Anh đã tăng lên mức cao nhất trong 30 năm là 7% vào tháng 3, gấp hơn ba lần mức mục tiêu của BOE, do giá thực phẩm và năng lượng tăng mạnh. Trong khi đó, niềm tin của người tiêu dùng Anh giảm xuống sát mức thấp kỷ lục vào tháng 4 do lo ngại tăng trưởng kinh tế chậm lại.

Thậm chí BOE còn dự báo, lạm phát tại Anh có thể tăng lên khoảng 10% trong năm nay do hậu quả của cuộc xung đột Nga - Ukraine và việc đóng cửa ngừa dịch bệnh tại Trung Quốc. Cơ quan này cũng đã cảnh báo, giá cả có khả năng tăng nhanh hơn thu nhập của nhiều người, từ đó làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt.

Thông cáo phát đi sau cuộc họp của BOE cho biết, áp lực lạm phát toàn cầu đã gia tăng mạnh mẽ sau khi cuộc xung đột Nga - Ukraine bùng nổ. “Điều này đã dẫn đến sự suy giảm đáng kể trong triển vọng tăng trưởng của thế giới và Vương quốc Anh”.

Đó là “một con đường rất hẹp” và “vấn đề là chúng ta đang phải đi trên con đường rất hẹp này”, Thống đốc Andrew Bailey cho biết tại một cuộc họp báo khi được hỏi tại sao BOE lại đưa ra quyết định tăng lãi suất. “Lý do gần nhất để tăng lãi suất tại thời điểm này không chỉ là tình hình lạm phát hiện tại và những gì sắp xảy ra và tất nhiên điều đó có thể có ý nghĩa như thế nào đối với kỳ vọng lạm phát - mà còn là rủi ro nữa”, Thống đốc Bailey nói.

Lãi suất có thể tăng tiếp

Trước đó Thống đốc BOE Andrew Bailey đã từng cho biết là cơ quan này có thể xem xét một cách tiếp cận mạnh hơn trong việc thắt chặt hơn chính sách tiền tệ so với việc tăng lãi suất 50 điểm cơ bản của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Trong các dự báo cập nhật của mình, BOE cũng nhấn mạnh nguy cơ suy thoái đang tiềm ẩn đối với nền kinh tế của đảo quốc sương mù. Theo đó BOE dự kiến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Anh sẽ giảm trong ba tháng cuối năm, một phần do mức tăng lớn dự kiến trong hóa đơn năng lượng của hộ gia đình vào tháng 10. Trong khi BOE dự báo lạm phát tại Anh sẽ đạt đỉnh 10,2% - mức cao nhất kể từ năm 1982.

“Tăng trưởng GDP của Vương quốc Anh dự kiến sẽ chậm lại mạnh mẽ trong nửa đầu của giai đoạn dự báo”, BOE cho biết. “Điều đó chủ yếu phản ánh tác động bất lợi đáng kể của việc giá năng lượng và hàng hóa toàn cầu có thể tăng mạnh so với thu nhập thực tế của hầu hết các hộ gia đình và biên lợi nhuận của nhiều công ty ở Vương quốc Anh”.

Theo Hussain Mehdi - chiến lược gia vĩ mô và đầu tư tại HSBC Asset Management, sự kết hợp giữa tăng trưởng chậm hơn và lạm phát cao hơn là một thách thức đối với nhiều nhà hoạch định chính sách và được phản ánh qua sự không thống nhất trong cuộc bỏ phiếu của MPC.

Tuy nhiên theo chuyên gia này, với việc lạm phát dự kiến sẽ tiếp tục cao hơn vào năm 2022, nhiều khả năng BOE sẽ tiếp tục thắt chặt hơn chính sách tiền tệ do lo ngại về tác động vòng hai từ thị trường lao động thắt chặt.

“Mặc dù giá năng lượng và việc Trung Quốc đóng cửa là những rủi ro chính đối với lạm phát, nhưng phạm vi lạm phát sẽ hạ nhiệt vào cuối năm nay và tác động của việc sụt giảm thu nhập hộ gia đình đối với tăng trưởng cũng sẽ giảm dần và điều đó cuối cùng cũng sẽ khiến BOE trở nên ôn hòa hơn”, ông nói thêm.

Trong khi đó Karen Ward - chiến lược gia trưởng về thị trường châu Âu, Trung Đông và châu Phi (EMEA) của JPMorgan Asset Management cho biết: “Theo quan điểm của tôi, sự kết hợp giữa đại dịch và Brexit đã thay đổi các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế Anh - đặc biệt là khả năng tạo ra lạm phát dai dẳng”.

“Ngân hàng sẽ phải tiếp tục tăng lãi suất để giảm lạm phát, nhưng một cách tiếp cận dần dần, như các BOE đã thực hiện hôm nay”, Ward nói. “Nếu nhu cầu bị dồn nén sau đại dịch tiếp tục lấn át cơn gió ngược của giá cả tăng cao, thì nhu cầu sẽ vẫn phục hồi. Trong trường hợp đó, BOE vẫn có một số cách để đi trong chu kỳ tăng lãi suất hiện nay”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650