Nhu cầu là nhu cầu nào?

10:03 | 23/03/2017

Cần có sự kiểm soát tập trung, cả từ xem xét nhu cầu vay, phân chia nguồn vốn theo tiêu chí tạo nguồn trả nợ, và trách nhiệm ràng buộc của những người có liên quan. 

Quản lý nợ công: Một đầu mối hay phân quyền?
Dự án Luật quản lý nợ công sửa đổi: Khó kiềm chế nợ công gia tăng
Không chuyển nợ doanh nghiệp sang nợ Chính phủ

Đầu tuần này, một lần nữa con số về nợ công làm nóng dư luận. Theo thông tin từ phiên thảo luận mới đây của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Luật Quản lý nợ công sửa đổi, so với GDP thì nợ công của Việt Nam tính đến cuối năm 2015 tương đương 62,2%, nợ của Chính phủ là 50,3% và nợ nước ngoài 43,1%. Cho dù so với quy định hiện hành thì các tỷ lệ trên vẫn trong ngưỡng cho phép. Nhưng điều đáng nói là nợ công của Việt Nam liên tục tăng, đem đến những quan ngại nhất định.

Ảnh minh họa

Các con số được công bố cho thấy, nợ công của Việt Nam tăng rất nhanh trong khoảng 10 năm trở lại đây. “Nợ công tăng gấp đôi, sau 20 năm đổi mới”, TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội từng nói với phóng viên Thời báo Ngân hàng. Diễn biến trên thực tế, theo dữ liệu của Bộ Tài chính, vào năm 2006, nợ công của Việt Nam mới chưa đến 30% GDP, thì đến cuối năm 2016 con số này vào khoảng 64,73% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 53,62%, tức đã gần chạm trần cho phép.

Đồng hồ nợ công (Global debt clock) trên trang The Economist.com ước tính tốc độ tăng nợ công/năm của Việt Nam vào khoảng 9%. Và lo ngại đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nhắc đến tại phiên họp vừa rồi: Vay cứ vay, chia cứ chia, trả nợ cứ trả, làm sao quản lý chặt chẽ được?

Trên thực tế, nhu cầu huy động vốn đầu tư phát triển của Việt Nam rất lớn, mà theo một đại biểu Quốc hội vẫn giải thích, là chuyện tất yếu phải làm. Nhưng đáng chú ý là chỉ tiêu huy động và khả năng trả nợ đều tính trên “sức khỏe” nền kinh tế. Trong khi đó, tăng trưởng GDP nhiều năm vừa qua không đạt được như mục tiêu đề ra, nhưng nợ vẫn huy động bình thường, thậm chí còn “vay” tạm chỉ tiêu năm sau… Vì vậy, tỷ lệ nợ công so với GDP tăng nhanh cũng là biểu hiện rất rõ của việc tốc độ tăng dư nợ công so với tốc độ tăng trưởng kinh tế không đồng tốc.

Lấy giai đoạn 10 năm qua làm ví dụ, nếu tính theo giá thực tế, GDP năm 2016 gấp hơn 4 lần năm 2006. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng tác động đến tương quan này là lạm phát cao tại Việt Nam, khiến VND mất giá so với USD. Tính theo USD, tương quan nói trên chỉ còn gấp khoảng 3 lần. Trong khi đó với nợ công, vào năm 2006 con số này ước tính bằng khoảng 24 tỷ USD, nhưng theo WB, đến cuối năm 2014 đã là 110 tỷ USD. Còn căn cứ vào GDP năm 2016, tỷ giá trong năm và tỷ lệ nợ công theo GDP thì có thể ước tính nợ công lên tới 120-130 tỷ USD, tức có thể gấp 5 lần năm 2006.

Ngoài các lý do trên, nợ công so với GDP của Việt Nam tăng còn do huy động và sử dụng. Một nhân tố đáng chú ý của vấn đề này là lãi suất huy động nợ gia tăng. Theo Bộ Tài chính, huy động vốn giai đoạn 2011-2013 được đánh giá là lớn, cùng với lãi suất cao, có khoản vay lãi suất lên tới 13%/năm.

Trong khi đó, sử dụng nguồn vốn hình thành từ nợ của Việt Nam còn hạn chế. Nhiều dự án chưa xây xong đã hỏng, hoặc có dự án hoàn thành nhưng không đưa được vào sử dụng. Chuyện đội vốn khiến khoản vay tăng thêm, hoặc hiệu quả sử dụng dự án không như mong đợi… Tất cả khiến cho vốn vay sau khi đưa vào dự án không tạo được dòng tiền quay trở lại để trả nợ.

Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho tốc độ trả nợ của Việt Nam hạn chế hơn. Một số chuyên gia phân tích, tỷ lệ trả nợ so với tổng nợ đã giảm từ khoảng 9,1% vào năm 2006 xuống chỉ còn hơn 6,5% vào năm 2010. Và vào các năm gần đây, Việt Nam đã phải vay nợ mới để trả nợ cũ (có thông tin cho rằng 14-16% dư nợ mới được dùng để trả nợ cũ), mặc dù nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ đã tăng lên, hiện chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách Nhà nước.

Thực tế là chúng ta đang đi vay vượt quá khả năng tạo ra nguồn trả nợ của nền kinh tế. Điều này tạo ra nhiều rủi ro: nợ gia tăng nhanh, chênh lệch tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế tạo thâm hụt tài khoản vãng lai; thị trường tài chính phải cân đối hài hòa giữa việc kiểm soát nợ với việc hỗ trợ phát triển kinh tế; chính sách tỷ giá có thêm yêu cầu ràng buộc; các chỉ tiêu về nguồn lực so với trách nhiệm nợ, chỉ tiêu an toàn nợ… kém đi làm lãi suất huy động có thể tiếp tục tăng lên, tiếp tục tạo sức ép lên khả năng trả nợ…

Đã đến lúc phải đặt câu hỏi, nhu cầu đầu tư là nhu cầu nào, cho lý do vay nợ? Bởi mặc dù đất nước đang phát triển cần vốn đầu tư, nhưng vay thì cũng cần phải căn cơ chứ không thể “bóc ngắn cắn dài”, vay nợ bất chấp khả năng trả nợ. Vấn đề này cần có sự kiểm soát tập trung, cả từ xem xét nhu cầu vay, phân chia nguồn vốn theo tiêu chí tạo nguồn trả nợ, và trách nhiệm ràng buộc của những người có liên quan. Mà như Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng giải thích: Vay cứ vay, chia cứ chia, trả nợ cứ trả, làm sao quản lý chặt chẽ được?

Anh Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650