Những khó khăn của kinh tế châu Âu năm 2020

10:32 | 15/01/2020

Nền kinh tế châu Âu đang giảm tốc, thậm chí có một số nhà phân tích dự đoán, nơi này rất có thể bước vào suy thoái trong năm 2020.

Từ mùa hè năm 2018 đến nay, tâm lý lo ngại các tranh chấp thương mại quốc tế gia tăng và kinh tế toàn cầu suy giảm đã khiến hầu hết các tổ chức kinh tế liên tục hạ thấp triển vọng kinh tế toàn cầu. Mặc dù chiến tranh thương mại có tác động đến nhiều nền kinh tế toàn cầu nhưng khu vực châu Âu dường như chịu những tác động rõ nét nhất. Do châu Âu phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực Eurozone thấp hơn nhiều so với mức trung bình của quốc tế, trở thành gánh nặng khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm tốc.

Bước sang năm 2019, kinh tế khu vực châu Âu tiếp tục đà suy giảm đã diễn ra từ cuối năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng kinh tế so với cùng kỳ có sự sụt giảm liên tục qua các quý, đạt 1,4% trong quý I và giảm xuống chỉ còn 1,2% trong 2 quý tiếp theo. Dự báo trong quý IV, tăng trưởng kinh tế khu vực EU sẽ không có nhiều cải thiện, ước cả năm 2019 tăng trưởng kinh tế khu vực đạt 1,2%, thấp hơn mức tăng 1,9% của năm 2018.

Kinh tế châu Âu đang phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu

Diễn biến kém tích cực trong tăng trưởng được ghi nhận rõ nét trong lĩnh vực sản xuất. Đà mở rộng của khu vực sản xuất đã chậm lại so với năm ngoái khi chỉ số PMI tổng hợp đã giảm từ mức trên 54 điểm trong năm 2018 xuống còn chỉ dao động quanh mức 51 điểm qua các tháng của năm 2019, trong đó đáng chú ý trong một số tháng cuối năm chỉ số PMI tổng hợp đã gần rơi xuống sát ngưỡng 50 điểm.

Tiêu dùng nội địa nhìn chung vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định trên 2% trong hầu hết các tháng, ngoại trừ tháng 5 và tháng 10, tuy nhiên chỉ số niềm tin người tiêu dùng duy trì ở mức âm trong cả năm 2019 phản ánh lo ngại của người tiêu dùng châu Âu về triển vọng tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Xu hướng giảm sút trong tăng trưởng cũng phản ánh qua diễn biến chậm lại của chỉ số giá cả khi tỷ lệ lạm phát đã có xu hướng điều chỉnh giảm liên tục kể từ tháng 4, ngày càng cách xa mức lạm phát mục tiêu 2%, trong đó tháng 10 đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua là 0,7%.

Bên cạnh sự suy giảm kinh tế, nợ công và các nguy cơ tài chính sẽ vẫn nghiêm trọng với Eurozone trong năm 2020 trong bối cảnh chỉ số lạm phát khó được cải thiện vì tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế yếu. Ủy ban châu Âu (EC) trong dự báo kinh tế hằng quý công bố cuối năm 2019 vừa cho biết, nợ công của Italy, quốc gia có mức nợ công cao nhất EU sẽ tăng lên mức tương đương 136,8% GDP năm 2020 và 137,4% GDP năm 2021. Thâm hụt ngân sách năm 2019 của Pháp tiếp tục cao hơn mức trần tương đương 3% GDP theo quy định của EU...

Các nhà phân tích nhận định có 3 yếu tố chính khiến nền kinh tế châu Âu rơi vào suy thoái. Trước hết, nền kinh tế Eurozone phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu, do đó tính khó đoán định của tình hình thương mại quốc tế sẽ làm cho nền kinh tế châu Âu dễ bị tổn thương hơn. Các số liệu thống kê quốc tế cho thấy xuất khẩu chiếm đến 28% GDP của Eurozone, trong khi tại Mỹ xuất khẩu chỉ chiếm 12% GDP. Do đó, có thể đánh giá trong nhóm các quốc gia phát triển, châu Âu là khu vực dễ chịu tổn thương nhất khi căng thẳng thương mại leo thang trên toàn cầu.

Một nguyên nhân tiếp theo là phản ứng chính sách của châu Âu đối với những tác động kinh tế dường như chưa được hợp lý và đủ độ kịp thời để ứng phó với các thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế đầy biến động. Kinh  nghiệm quốc tế cho thấy khi rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu tăng lên, các nền kinh tế lớn trên thế giới thường chủ động và thực hiện các biện pháp kích thích nhu cầu chống chu kỳ.

So với NHTW châu Âu ECB, Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ đã thay đổi lộ trình chính sách tiền tệ sớm hơn, không những giảm lãi suất lần đầu tiên trong 10 năm qua mà còn giảm lãi suất 2 lần trong chưa đầy 2 tháng. Tuy nhiên, sự điều chỉnh chính sách của châu Âu đối với sự suy giảm của nhu cầu lại thường thuận theo chu kỳ, cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế châu Âu trong những năm gần đây giảm xuống, điều mà các nền kinh tế lớn trong Eurozone cân nhắc không phải là mở rộng chính sách tài chính mà là tăng thuế và giảm chi tiêu công để kiểm soát thâm hụt.

Cuối cùng là do tính khó đoán định của tình hình chính trị châu Âu. Từ tính khó đoán định của Brexit đến việc xuất hiện chính phủ có tư tưởng chủ nghĩa dân túy mới ở Italy, cộng thêm những xung đột liên tiếp tại Ủy ban Ngân sách thuộc Nghị viện châu Âu (EP) về vấn đề ngân sách đã tạo tâm lý lo ngại đối với ngành ngân hàng của châu Âu.

Bên cạnh 3 nhóm nguyên nhân chủ đạo như vậy, các nhà phân tích nhận định kinh tế Eurozone tiếp tục đối mặt các khó khăn lớn như môi trường bên ngoài không thuận lợi; nợ công và các rủi ro tài chính gia tăng, trong khi các biện pháp kích thích tiền tệ và kích thích tài khóa sẽ không còn nhiều dư địa để thực hiện trong năm 2020.

Trong bối cảnh những khó khăn chồng chất như vậy, tăng trưởng kinh tế khu vực EU dự báo tiếp tục giảm sút trong năm 2020. Theo dự báo mới nhất của tổ chức thương mại thế giới IMF, khu vực Eurozone năm 2020 sẽ chỉ tăng ở mức 1,4%, giảm 0,2% so với dự báo trước đó. Đức và Anh cũng bị điều chỉnh giảm xuống còn 1,2% và 1,4% trong năm 2020.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.380 23.590 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.385 23.575 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.415 23.600 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.380 23.580 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.450 23.590 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
47.900
Vàng SJC 5c
47.000
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.500