Những tác động từ gói kích thích kinh tế của Mỹ

14:35 | 06/04/2021

Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ gói kích thích của Mỹ. Nhưng đi đôi với cú hích đối với hoạt động xuất khẩu là rủi ro lạm phát và tăng trưởng GDP cả năm ở mức 6,6-6,8%.

Xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng 1,4% GDP

Theo nhóm nghiên cứu vĩ mô của Công ty cồ phần chứng khoán Rồng Việt (VDSC) gói kích thích kinh tế của Mỹ sẽ có những tác động rất đáng chú ý tới Việt Nam.

Vào tháng 3/2021, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã ký gói kích thích kinh tế trị giá 1,9 nghìn tỷ USD. Theo đó, gói kích thích kinh tế sẽ cung cấp hỗ trợ cho hầu hết người Mỹ (ví dụ: hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt, tăng phúc lợi cho người thất nghiệp và các hộ gia đình nghèo) và nhiều hình thức hỗ trợ khác (ví dụ: tín dụng thuế, tài trợ cho chính quyền bang và địa phương, chương trình phân phối vắc xin COVID-19).

Với gói kích thích của Mỹ tương đương với 2,5% GDP toàn cầu, nền kinh tế Mỹ được kỳ vọng sẽ phục hồi mạnh trong năm 2021, theo đó nhu cầu tiêu dùng cao ở Mỹ sẽ thúc đẩy kinh tế toàn cầu hồi phục.

Trong báo cáo gần đây nhất về triển vọng kinh tế, OECD kỳ vọng gói kích thích kinh tế của Mỹ cùng với việc tiêm chủng nhanh hơn có thể thúc đẩy tăng trưởng GDP của Mỹ thêm 3 điểm phần trăm vào năm 2021, đồng thời gia tăng nhu cầu nhập khẩu các đối tác thương mại chính của Mỹ.

Nhóm nghiên cứu VDSC nhắc lại, vào năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam vẫn tương đối tích cực mặc dù kinh tế Mỹ suy thoái. Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với mức xuất khẩu tăng 25,7% so với cùng kỳ trong khi tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam trên tổng nhập khẩu của Mỹ tăng từ 2,6% trong năm 2019 lên 3,0%.

tac dong tu goi kich thich kinh te cua my doi voi viet nam

“Nếu người tiêu dùng Mỹ mua nhiều hàng hóa nhập khẩu hơn nhờ gói kích thích kinh tế, chúng tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ gói kích thích của Mỹ do mối quan hệ thương mại ngày càng gia tăng giữa Việt Nam với Mỹ”, nghiên cứu nhận định.

Theo ước tính của Allianz SE, khoảng 360 tỷ USD của gói kích thích sẽ được chi cho nhập khẩu, theo đó, xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng tương ứng 1,4% GDP trong giai đoạn 2021-22 nhờ gia tăng nhu cầu về máy tính, đồ nội thất và hàng dệt may.

Nhưng VDSC lưu ý “Đi đôi với cú hích đối với hoạt động xuất khẩu là rủi ro lạm phát”.

Rủi ro lạm phát tác động mạnh lên tâm lý các nhà đầu tư

VDSC dẫn ra, trong cuộc họp FOMC vào tháng 3, Fed giữ nguyên lãi suất chính sách và chương trình mua tài sản trong khi nâng các dự báo về GDP, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát. Tuy nhiên, Fed đã lập luận rằng sự gia tăng chi tiêu trong tiêu dùng bắt nguồn từ các biện pháp kích thích kinh tế sẽ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và không làm nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Do đó, lạm phát chỉ xảy ra tạm thời trong khi các động lực lạm phát dài hạn không thay đổi.

Mặc dù vậy, rủi ro lạm phát vẫn đang tác động mạnh lên tâm lý các nhà đầu tư, thể hiện qua việc lợi suất trái phiếu vẫn tăng mạnh sau khi các nhà đầu tư đã thẩm thấu hàm ý chính sách từ cuộc họp của Fed. Điều này cho thấy rằng các nhà đầu tư kỳ vọng Fed sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ sớm hơn, do đó, tương tự như sự kiện thu hẹp các gói nới lỏng định lượng xảy ra vào năm 2013, việc thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu có thể xảy ra khi chính sách tiền tệ của Mỹ chuyển hướng.

tac dong tu goi kich thich kinh te cua my doi voi viet nam
Diễn biến lạm phát của Việt Nam

“Trong trường hợp này, chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ có vị thế tốt để đối diện với rủi ro khi lợi tức trái phiếu Mỹ tăng cao khiến dòng vốn chảy ra ngoài, biến động tiền tệ và áp lực trả nợ gia tăng. Cần lưu ý rằng Chính phủ Việt Nam đã xây dựng vùng đệm quan trọng bằng cách tăng dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục 100 tỷ USD vào cuối năm 2020. Ngoài ra, việc củng cố tài khóa dần dần cũng đã giúp cải thiện không gian tài khóa và các chỉ số nợ vay quốc gia trong những năm gần đây”, nhóm nghiên cứu của VDSC nhận định.

Nhìn lại tình hình kinh tế Việt Nam quý I/2021 với mức tăng trưởng GDP là 4,5%, VDSC cho biết “đây là một mức thấp hơn kỳ vọng của chúng tôi”. Tăng trưởng trong quý I/2021 vẫn bị ảnh hưởng lớn do sự bùng phát lần ba của đại dịch ở một số địa phương.

VDSC cho biết, “chúng tôi tiếp tục kỳ vọng ngành sản xuất duy trì đà tăng trưởng do nhu cầu thiết bị điện tử toàn cầu đang gia tăng, đồng thời Việt Nam ngày càng gia tăng vai trò là trung tâm sản xuất chuỗi cung ứng điện tử”.

Bên cạnh đó là làn sóng dịch bệnh gần đây đã được kiểm soát và tiêm chủng vắc xin COVID-19 được triển khai thì ngành dịch vụ sẽ phục hồi trở lại trong những quý tới.

“Chúng tôi cho rằng dự báo tăng trưởng GDP cả năm ở mức 6,6-6,8%, rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng chủ yếu đến từ những bất ổn liên quan đến dịch bệnh”, nhóm nghiên cứu của VDSC cho biết.

Lan Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150