Nợ toàn cầu tăng, đẩy rủi ro cao hơn

09:20 | 19/12/2019

Bản cập nhật mới về Cơ sở dữ liệu nợ toàn cầu của IMF cho thấy tổng nợ toàn cầu (công cộng và tư nhân) đạt tới 188 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2018, tăng 3 nghìn tỷ USD so với năm 2017. Tỷ lệ nợ trên GDP trung bình toàn cầu tăng tới 226% trong năm 2018, cao hơn 1% so với năm trước.

 

 

Mặc dù đây là mức tăng hàng năm nhỏ nhất của tỷ lệ nợ toàn cầu kể từ năm 2004, nhưng nhìn kỹ hơn vào dữ liệu theo từng quốc gia cho thấy, tính dễ tổn thương đang gia tăng, cho thấy nhiều quốc gia có thể không sẵn sàng cho sự suy thoái tiếp theo.

Ở các nền kinh tế tiên tiến, tỷ lệ nợ trung bình giảm, nhưng không có dấu hiệu rõ ràng về một nỗ lực đáng kể để giảm nợ. Trong khi ở các nền kinh tế thị trường mới nổi và các nước đang phát triển có thu nhập thấp, tỷ lệ nợ trung bình tăng hơn nữa. Đáng chú ý, tỷ lệ nợ của Trung Quốc đã đạt tới 258% GDP vào cuối năm 2018, giống như Hoa Kỳ và gần mức trung bình của các nền kinh tế tiên tiến, là 265%.

Nhìn vào xu hướng chung, có hai nhóm riêng biệt. Tại các nền kinh tế tiên tiến, tỷ lệ nợ của cả khu vực công và tư đã giảm ở phần lớn các quốc gia trong năm 2018. Tuy nhiên, những thay đổi trong tổng tỷ lệ nợ trung bình là tương đối nhỏ, giảm 0,9% GDP. Trong khi với các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển có thu nhập thấp, xu hướng tăng trong tổng tỷ lệ nợ không có dấu hiệu tạm dừng hoặc chậm lại, với sự gia tăng chính đến từ nợ công.

Nhìn chung ở hầu hết các quốc gia, tỷ lệ nợ công đang ở mức rất cao. Ngoại trừ Mỹ và Nhật Bản, các nền kinh tế tiên tiến đã bắt đầu giảm một số khoản nợ tích lũy sau hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mặc dù vậy, tỷ lệ nợ công cao hơn so với trước năm 2008 ở gần 90% các nền kinh tế tiên tiến, thậm chí một phần ba trong số đó, tỷ lệ nợ công cao hơn 30 điểm phần trăm so với mức trước khủng hoảng.

Ở các thị trường mới nổi, tỷ lệ nợ công đang ở trên mức 70% ở gần một phần năm các quốc gia. Trong khi đó, nợ công tăng liên tục ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp nói chung, với 2/5 trong số đó trên toàn thế giới có nguy cơ cao, hoặc bị khủng hoảng nợ.

no toan cau tang day rui ro cao hon
Ảnh minh họa

Tuy nhiên diễn biến nợ của khu vực tư nhân, đặc biệt là nợ của công ty, có sự khác biệt giữa các quốc gia. Ở các nền kinh tế tiên tiến, tỷ lệ nợ doanh nghiệp đã tăng dần kể từ năm 2010 và hiện tại nó ở cùng mức với năm 2008, mức cao nhất trước đó. Nhưng có sự khác biệt lớn, nếu như tại Tây Ban Nha và Anh, khu vực doanh nghiệp đã giảm được khoản nợ khổng lồ kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; thì tại Mỹ, nợ doanh nghiệp tăng liên tục kể từ năm 2011 và đạt mức cao kỷ lục vào cuối năm 2018. Trong khi đó, tỷ lệ nợ hộ gia đình đã giảm ở các nền kinh tế tiên tiến so với năm 2008, với sự sụt giảm mạnh ở Mỹ và Anh, song tăng ở một phần ba các nền kinh tế tiên tiến.

Còn tại các thị trường mới nổi trừ Trung Quốc, tỷ lệ nợ doanh nghiệp trung bình đã giảm kể từ năm 2015 và hiện cao hơn 4% so với năm 2009, nhưng các quốc gia này đã không tránh khỏi tình trạng giảm chất lượng tín dụng doanh nghiệp. Trong khi tỷ lệ nợ hộ gia đình đã tăng đều đặn, nhưng nó vẫn chỉ bằng một nửa so với các nền kinh tế tiên tiến.

Với Trung Quốc, nỗ lực kiềm chế nợ doanh nghiệp được tiếp tục trong năm 2018, khiến nợ doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên nợ có chủ quyền tăng đáng kể và nợ hộ gia đình cũng tiếp tục tăng trong năm 2018.

Theo IMF, không giống như trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, rủi ro không chỉ tập trung ở khu vực tư nhân mà cả khu vực công. Đáng chú ý mức nợ tư nhân quá mức làm tăng tính dễ bị tổn thương. Thậm chí việc giảm nợ trong khu vực tư nhân cũng có thể trở thành gánh nặng cho khu vực công nếu sản lượng giảm dẫn đến doanh thu thấp hơn hoặc vỡ nợ của công ty gây ra tổn thất và hạn chế cho vay của các ngân hàng. “Do đó, điều quan trọng là phải giảm các lỗ hổng như vậy trước cú sốc bất lợi tiếp theo”, IMF khuyến nghị.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800