Nông nghiệp vẫn là trụ đỡ của nền kinh tế

10:09 | 09/10/2020

Trong quý IV/2020, toàn ngành nông nghiệp phấn đấu mục tiêu xuất khẩu đạt trên 10 tỷ USD, đưa tổng trị giá xuất khẩu cả năm nay đạt trên 40 tỷ USD. 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Tự lực tự cường, thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng
Ngân hàng luôn đồng hành cùng nông nghiệp
Ảnh minh họa

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Phùng Đức Tiến cho biết, 9 tháng đầu năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (NLTS), ngoài chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 còn bị tác động của thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, sản xuất NLTS vẫn thể hiện được là trụ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn và đảm bảo đủ nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu trong nước và xuất khẩu. 

Theo số liệu thống kê, GDP của ngành nông nghiệp quý III đã đạt mức tăng trưởng là 2,93%, cao hơn quý I và II. Trong đó, nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) tăng 3,21%, lâm nghiệp tăng 1,70%, thủy sản tăng 2,47%. Lũy kế 9 tháng, tốc độ tăng trưởng GDP của ngành đạt 1,84% (nông nghiệp tăng 1,65%, lâm nghiệp tăng 2,02%, thủy sản tăng 2,44%). 

Tình hình hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra sớm và gay gắt nhưng nhờ sự chủ động chỉ đạo của ngành nông nghiệp, nhất là việc điều chỉnh thời vụ hợp lý, sử dụng những giống lúa, cây trồng chất lượng cao, ít bị nhiễm bệnh, cùng với kiểm soát tốt dịch bệnh nên năng suất lúa vụ Đông xuân và Hè Thu đều tăng bình quân 0,9 tạ/ha. Đặc biệt, giá lúa gạo tăng cao với nhiều đơn hàng xuất khẩu lớn nên tiếp tục duy trì tăng trưởng. Giá trị sản xuất (GTSX) lĩnh vực trồng trọt quý III tăng 0,93% so với qúy III/2019; tính chung 9 tháng, GTSX tăng 0,75% so với cùng kỳ năm ngoái. 

Tình hình chăn nuôi trên cả nước 9 tháng qua phát triển khá tốt, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát. Bộ NN&PTNT đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai nhiều giải pháp để đẩy nhanh tái đàn lợn, phát triển chăn nuôi bò, gia cầm... đảm bảo nguồn cung thực phẩm, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Ông Nguyễn Xuân Dương - Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết, sản lượng thịt hơi các loại quý III ước đạt trên 1,3 triệu tấn, tăng 9,0%, 9 tháng đạt khoảng 3,9 triệu tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ. Trong đó, đàn lợn cả nước đang dần được khôi phục, tuy nhiên việc tái đàn tại các địa phương nhìn chung vẫn còn chậm so với kỳ vọng. Tổng số lợn tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019. Với tốc độ tái đàn như hiện nay, trong quý IV/2020 và dịp Tết Nguyên đán sắp tới nguồn cung thịt lợn sẽ tương đối dồi dào.

Mặc dù đứng trước nhiều thách thức, sản xuất thủy sản vẫn tăng trưởng khá. GTSX lĩnh vực thủy sản quý III tăng 2,5% so với quý III/2019; 9 tháng GTSX tăng 2,48%. Trong đó, nuôi trồng đạt 105,3 nghìn tỷ, tăng 2,67%, khai thác đạt 70,38 nghìn tỷ, tăng 2,2%.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 9 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng NLTS ước đạt gần 52,8 tỷ USD, trong đó xuất khẩu ước đạt 30,05 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2019; nhập khẩu ước khoảng 22,8 tỷ USD, giảm 2,2%; xuất siêu khoảng 7,2 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2019. Tháng 9, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 3,8 tỷ USD, tăng 3,8% so với tháng 8/2020 và là tháng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong 9 tháng qua. 

Trong quý IV/2020, toàn ngành nông nghiệp phấn đấu mục tiêu xuất khẩu đạt trên 10 tỷ USD, đưa tổng trị giá xuất khẩu cả năm nay đạt trên 40 tỷ USD. 

Những tháng cuối năm, dự kiến tình hình thiên tai, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm còn diễn biến khó lường; việc tiêu thụ nông sản (nhất là xuất khẩu) sẽ tốt hơn nhưng sẽ vẫn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm, Bộ NN&PTNT sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu nông sản trước diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19 trên thế giới, tập trung vào các thị trường trọng điểm. Kịp thời cung cấp thông tin, cảnh báo các quy định mới của thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800