Nuôi dưỡng những doanh nghiệp tiềm năng

11:00 | 13/11/2019

Việc tìm kiếm, thúc đẩy DN hỗ trợ cần phải được tăng cường, nhất là nuôi dưỡng những DN tiềm năng

Cần nhiều trợ lực để tăng tốc
Nhà băng rộng cửa “đón” DNNVV
Nâng cao năng lực kết nối của DN vào chuỗi cung ứng

Thời gian qua nhiều DN phụ trợ Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp chính sản phẩm cho nhiều tập đoàn, DN lớn như Samsung, Sony, Yamaha... Có được thành công này, bên cạnh sự nỗ lực của DN thì sự liên kết, hỗ trợ từ phía các tập đoàn về công nghệ, về nâng cao chất lượng sản phẩm để đạt yêu cầu từ phía đơn vị. Theo Bộ Công thương, cần phải nuôi dưỡng những DN tiềm năng trong ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) để trở thành những hạt nhân thúc đẩy ngành này phát triển, đồng thời đủ sức tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Việc tìm kiếm, thúc đẩy DN hỗ trợ cần phải được tăng cường, nhất là nuôi dưỡng những DN tiềm năng

Cùng với tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, CNHT Việt Nam trong những năm qua đã có những bước tiến nhất định. Thống kê của Bộ Công thương cho thấy, số DN đang hoạt động trong CNHT chiếm gần 4,5% tổng số DN của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Hiện nay, DN sản xuất linh kiện Việt Nam có năng lực khá tốt tại một số lĩnh vực như sản xuất khuôn mẫu các loại, linh kiện xe đạp, xe máy; linh kiện cơ khí tiêu chuẩn; dây cáp điện… Các sản phẩm này đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Những lợi thế này đã đóng góp không nhỏ vào phát triển ngành công nghiệp Việt Nam. Theo Tổng cục Thống kê, sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2019 đạt mức tăng khá 9,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%.

Những năm qua, Chính phủ đã rất quan tâm đến lực lượng DNNVV, trong đó có nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi riêng cho DN CNHT. Bên cạnh đó, để nâng cao năng lực cho các DN, Bộ Công thương cũng đã đẩy mạnh triển khai một số chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNHT, liên kết với những tập đoàn lớn nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực, chuyển giao công nghệ… Đơn cử như phối hợp với Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc đào tạo cán bộ xây dựng chính sách và cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực CNHT; Hợp tác với Nhật Bản về CNHT trong khuôn khổ chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam – Nhật Bản… Qua đó góp phần thúc đẩy các DN cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.

Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải nhấn mạnh, hiện các DN CNHT Việt Nam phát triển nhanh về cả số lượng và chất lượng, cải thiện năng lực sản xuất và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành vẫn còn gặp không ít những rào cản như năng lực sản xuất tổ chức quản lý sản xuất và công nghệ kỹ thuật còn yếu, khả năng tự cung ứng các sản phẩm CNHT trong nước còn nhiều bất cập cần phải có những giải pháp khắc phục.

Một trong những thành công trong việc hợp tác, liên kết với các tập đoàn lớn là dự án hợp tác với Tập đoàn Samsung trong Chương trình Phát triển nhà cung cấp, Chương trình Đào tạo chuyên gia tư vấn Việt Nam. Tính đến thời điểm này đã có hơn 80 DN tham gia vào chương trình tư vấn cải tiến của Samsung, trong đó nhiều DN được thực hiện tư vấn 2 lần. Đặc biệt, dự án hợp tác đào tạo 200 chuyên gia tư vấn người Việt Nam trong 2 năm 2018-2019 giữa Samsung và Bộ Công thương về CNHT là nhân tố quan trọng để nâng cao cải tiến cho DN tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội CNHT Việt Nam cho biết, các chỉ số của các DN CNHT Việt Nam như chỉ số năng lực công nghệ, chỉ số năng lực thích ứng, đổi mới sáng tạo, chỉ số phát triển bền vững và chỉ số năng lực kết nối, hội nhập… đa số đều ở mức trung bình. Do đó, để tăng cường cơ hội và tạo đà kích thích sự phát triển của ngành CNHT cần sự vào cuộc mạnh mẽ của cả các cơ quan quản lý và DN. Trong đó, đẩy mạnh những hoạt động xúc tiến cơ hội hợp tác đầu tư, giao lưu trao đổi kinh nghiệm, kết nối với các DN và tổ chức nước ngoài... và đào tạo, nâng cao năng lực cho các DN. 

Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cũng cho rằng, đến nay một số DN Việt Nam đã tham gia cung ứng sản phẩm CNHT nhưng vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia và năng lực đáp ứng của các DN sản xuất nội địa. Nếu không có những giải pháp cải thiện nâng cao chất lượng thì rất khó đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Bởi vậy việc tìm kiếm, thúc đẩy DN hỗ trợ cần phải được tăng cường, nhất là nuôi dưỡng những DN tiềm năng. Các chương trình hợp tác, liên kết của Bộ Công thương thời gian qua đã giúp các DN Việt Nam nâng cao năng lực, đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật của DN nước ngoài. Từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh hơn, trở thành nhà cung ứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguyễn Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950