Ô nhiễm, thiếu nước có thể gây tổn thất 3,5% GDP mỗi năm

18:38 | 30/05/2019

Đó là thông tin rất đáng chú ý rút ra từ nghiên cứu “Việt Nam: hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn” do  Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) thực hiện và công bố ngày hôm nay, 30/5/2019.

Theo nghiên cứu nói trên, quá trình phát triển các đô thị làm gia tăng nhanh chóng nhu cầu sử dụng nước, được dự báo sẽ gây ra căng thẳng về nguồn tài nguyên nước vào mùa khô tại 11/16 lưu vực sông ở Việt Nam.

Nếu hành động sớm thì sẽ đảm bảo được rằng tài nguyên nước vẫn sẽ tiếp tục là một yếu tố chủ chốt giúp Việt Nam phát triển thịnh vượng hơn

Số liệu của Bộ Xây dựng cho thấy, hiện chỉ có 46% hộ gia đình ở đô thị được đấu nối với các hệ thống thoát nước và chỉ có 12,5% nước thải sinh hoạt được xử lý.

Thêm vào đó, xả nước thải công nghiệp chưa xử lý, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu quá phổ biến đang gây ra những áp lực không ngừng đối với các lưu vực sông.

Một thách thức nghiêm trọng khác đối với Việt Nam là hiệu quả sử dụng nước còn thấp, đặc biệt trong ngành nông nghiệp và thủy sản vốn chiếm tới 92% tổng lượng nước tiêu thụ toàn quốc.

Những nguyên nhân trên đang gây tổn hại lớn tới chất lượng nước và hệ sinh thái liên quan. Theo đó, tình trạng ô nhiễm nước là mối đe dọa lớn nhất, WB tính toán nguyên nhân này có thể gây tổn thất cho Việt Nam ước tính tới 3,5% GDP mỗi năm tính đến năm 2035.

Vòng xoáy tiếp theo là sự cạnh tranh về nhu cầu sử dụng nước ở nhiều ngành khác nhau ngày càng tăng, trong bối cảnh chất lượng nước ngày một kém đi. Bên cạnh đó, tác động biến đổi khí hậu làm cho các thách thức về nước càng trầm trọng hơn.

“Những áp lực này sẽ tạo nên các yếu tố kém bền vững cho phát triển nếu tài nguyên nước không được quản lý một cách thống nhất và được chia sẻ, khai thác một cách hợp lý, hiệu quả”, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà nhìn nhận.

Theo nghiên cứu của WB, an ninh tài nguyên nước của Việt Nam trong tương lai sẽ phụ thuộc vào việc giải quyết một loạt những vấn đề quan trọng liên quan đến tình trạng căng thẳng về nước, suy giảm nhanh chất lượng nước, và những rủi ro thiên tai liên quan đến nước.

“Nếu hành động sớm thì sẽ đảm bảo được rằng tài nguyên nước vẫn sẽ tiếp tục là một yếu tố chủ chốt giúp Việt Nam phát triển thịnh vượng hơn”, ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam nói.

Còn bà Jennifer Sara, Giám đốc cấp cao Ban nước Toàn cầu của WB thì bổ sung: “Báo cáo này gửi một thông điệp rõ ràng rằng tăng trưởng kinh tế bền vững ở Việt Nam sẽ không thể đạt được nếu không có hành động mạnh mẽ để bảo vệ tài nguyên nước”. 

Nghiên cứu chỉ ra các cơ hội để nâng cao hiệu quả sử dụng nước là chuyển đổi sang những cây trồng và những hệ thống thủy lợi tạo ra thu nhập cao hơn cho mỗi đơn vị nước sử dụng, tiết kiệm nước để đạt kết quả tốt hơn, giảm lượng nước sử dụng qua việc ứng dụng công nghệ mới, và có biểu giá nước hợp lý để giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Để cải thiện chất lượng nước, WB đưa ra khuyến nghị cần tăng cường năng lực cho các cơ quan chịu trách nhiệm hoạch định và thực thi các quy định về quản lý nước; áp dụng cách tiếp cận tổng hợp ở quy mô lưu vực sông; xây dựng cơ chế khuyến khích việc giảm thiểu ô nhiễm và sử dụng nước hiệu quả hơn.

Cũng theo WB, Việt Nam cần có cải thiện trong công tác ứng phó với thiên tai và đảm bảo khả năng chống chịu trước các hiện tượng lũ lụt gia tăng, xói lở bờ sông, bờ biển với tốc độ nhanh hơn, tình trạng nước biển dâng và sụt lún đất; cải thiện chất lượng chi tiêu công và khuyến khích huy động nguồn vốn tư nhân là một việc cần thiết để mở rộng nguồn tài chính cho cải thiện công tác quản lý tài nguyên nước.

Nguồn: Ngân Linh

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.945 23.155 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.954 23.164 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.958 23.158 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.300
Vàng nữ trang 9999
52.300
53.000